Logo
 
Hotline: 0934 231 288
Banner Sub 1
KHÔNG GIAN NỘI THẤT GỐM SỨ
Mr. Dũng Kinh doanh: Mr. Dũng Mr. Dũng Kỹ thuật: Mr. Dũng

Tranh gốm Bát Tràng: Cảnh Thiếu nữ gội đầu

Bạn hãy bình chọn cho sản phẩm:

Số lần Vote: 4 lượt/ Số lượt xem: 596

Thông số sản phẩm

Mã sản phẩm: TGB-100002

Nhà sản xuất: Nội Thất Thời Nay

Giá: Liên hệ với chúng tôi
 
  • Mô tả sản phẩm
  • Cửa hàng
  • Giới thiệu nhà sản xuất
  • Nhận xét sản phẩm
  • Chế độ bảo hành

Để biết được thông tin chi tiết về sản phẩm quý khách xin vui lòng liên hệ với chúng tôi

Sản phẩm này chưa có tại hệ thống Đại Lý của chúng tôi. Xin vui lòng liên hệ

Nội thất Thời Nay là một doanh nghiệp hoat động chuyên nghiệp trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc, thiết kế nội thất, thi công nội thất. Đến nay chúng tối đã thiết kế và thi công rất nhiều các công trình  như: Công nghiệp, nhà hàng, khách sạn, văn phòng cao cấp, tòa nhà, chung cư…..

Tất cả những sản phẩm mà chúng tôi mang lại luôn đảm bảo tính kỹ thuật, thẩm mỹ cao; giá thành rẻ và bảo hành dài hạn. Chúng tôi luôn tạo ra những sản phẩm hiện đại và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, và các hộ gia đình.

Đối tác chiến lược của chúng tôi là các công ty chuyên thiết kế, đồ họa; các dự án nội thất là các văn phòng, cao ốc cho thuê, các chung cư, trường học, bệnh viện…. Ngoài ra, chúng tôi cũng luôn là đối tác trung thành của các hộ gia đình mong muốn thụ hưởng trong một không gian nội thất nhà đẹp.

Với phương châm “ Rẻ – đẹp – chất lượng”, Nội thất Thời Nay luôn là địa chỉ đáng tin cậy cho mọi không gian đẹp của doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân.

SỨ MỆNH

Nội thất Thời Nay luôn là nơi đem lại những không gian đẹp cho mọi giới tầng của xã hội.

TẦM NHÌN

Nội thất Thời Nay sẽ trở thành đỉnh cao về vẻ đẹp không gian của mọi thời đại đáp ứng đủ mọi yêu cầu của xã hội trong thời đại mới – Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 

Chưa có bình luận cho sản phẩm này. Bạn hãy bình luận cho sản phẩm

Tất cả các sản phẩm của Nội thất Thời Nay đều được bảo hành từ 6 đến 12 tháng kể từ ngày giao hàng.
 
Tất cả những sản phẩm do lỗi trong quá trình sản xuất, lỗi kỹ thuật, kết cấu, bong tróc sơn, mối mọt đều được bảo hành.
 
Phương thức bảo hành: Nhân viên của Nội thất Thời Nay sẽ đến nhà của quý khách để khắc phục sự cố. Nếu nghiêm trọng chúng tôi sẽ thay thế sản phẩm tương tự hoàn toàn mới hoặc hoàn trả lại sản phẩm mà không tốn thêm chi phí nào.
 
Khi sản phẩm xảy ra sự cố, hãy liên lạc với bộ phận Hỗ Trợ Bán Hàng, chúng tôi sẽ sắp xếp nhân viên đến khắc phục trong thời gian sớm nhất.
 
Chúng tôi sẵn sàng cho quý khách trả hàng đã mua khi quý khách nhận được món hàng không giống như những gì đã được mô tả trên Nội thất Thời Nay. Khi trả hàng quý khách chỉ phải thanh toán phần chi phí vận chuyển một chiều. Sau khi việc giao hàng đã hoàn tất (vận chuyển, lắp ráp, đã thanh toán tiền) chúng tôi sẽ không chấp nhận việc trả hàng nữa.
 

 

CÁC CÔNG TRÌNH THI CÔNG

Sản Phẩm Tương Tự

Bài viết tiêu điểm

Dòng gốm cổ Bồ Bát - Ninh Bình

Dòng gốm cổ Bồ Bát - Ninh Bình

Trong khi gốm Bát Tràng đã trở thành một tên tuổi nổi tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc, thậm chí còn vượt qua cả phạm vi biên giới thì gốm Bồ Bát lại rơi vào quên lãng. Xót xa trước tình cảnh này, chàng thanh niên 31 tuổi Phạm Văn Vang quyết tâm vực tậy thương hiệu gốm cổ Bồ Bát. Nhưng chuyện chẳng hề đơn giản khi chỉ đơn độc trên con đường gập ghềnh ấy.
 
Làng gốm Bồ Bát xưa (Bồ Bát là Bồ Xuyên và Bạch Bát) vốn thuộc phủ Trường Yên nay thuộc làng Bạch Liên, xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Theo sử sách ghi lại, cư dân Bồ Bát đã có nghề làm gốm từ rất lâu đời. Điều này đã được xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm nằm dày đặc ở nhiều nơi trong vùng.
 
Từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (năm 1010), rất nhiều nghệ nhân tại làng gốm Bồ Bát đã theo triều đình về đất Thăng Long xây dựng kinh đô mới. Những nghệ nhân này đã đến định cư ở cùng đất ven sông Hồng, nơi có nhiều đất sét tốt để sản xuất gốm sứ và lập nên làng gốm Bát Tràng ngày nay. Tuy nhiên, sau khi những nghệ nhân giỏi ồ ạt di cư đến Thăng Long lập phường gốm mới, những người dân Bồ Bát không còn giữ được nghề gốm truyền thống, dần dần chuyển sang cấy lúa làm ruộng để sinh sống và lãng quên đi cái nghề từng hưng thịnh một thời. Nghề gốm sứ ở Bồ Bát cũng dần ‘thất truyền” từ đó.
 
Là người đầu tiên mở xưởng gốm duy nhất ở làng Bạch Liên, Phạm Văn Vang hy vọng với thương hiệu gốm Bồ Bát do chính bàn tay mình dày công gây dựng anh có thể góp phần nào công sức vực dậy thương hiệu gốm sứ từng mang lại tiếng thơm cho làng. Ở tuổi 31, Vang đã dành khoảng 10 năm tự mình tìm hiểu, xin học lại nghề cũ của làng Bồ Bát xưa, mở lò gốm ngay trên mảnh đất quê hương và nhiệt tình truyền lại nghề cho những người dân trong làng.
 
Tuy còn rất trẻ, nhưng những gì chàng thanh niên này làm được đã khiến cho nhiều người phải ngỡ ngàng. Một khu mái lợp tôn rộng hơn 300 mét vuông với hơn 20 thợ là quy mô xưởng sản xuất gốm hiện tại của anh Vang. Ngoài những sản phẩm chính là gốm mỹ nghệ như chuông gió, vòng cổ bằng sứ thì những sản phẩm gốm sứ khác như bát đĩa, ấm chén đều được chế tác rất tinh xảo, với nhiều họa tiết trang trí đặc sắc thể hiện bàn tay tài hoa của các nghệ nhân tại vùng đất có gốc làm nghề gốm.
 
Nước da ngăm ngăm, anh Vang trông có vẻ già dặn hơn cái tuổi 31 của mình, nhưng nhìn anh người ta có thể hình dung ngay được “vị cứu tinh” của làng gốm Bồ Bát xưa đã phải trải qua một hành trình gian nan và vất vả như thế nào để thực hiện mong muốn khôi phục làng nghề như xưa. Anh cho rằng nghề gốm giống như một cái duyên tiền định đối với anh. Vốn là con cháu của dòng họ Phạm, một dòng họ đang sinh sống và làm gốm tại Bát Tràng, vì thế trong các dịp hội ngộ giữa người họ Phạm và các người họ khác ở Bát Tràng, anh lại được ngồi nghe các nghệ nhân chia sẻ kinh nghiệm, cùng nhau ôn lại lịch sử của tổ nghề. Những lúc ngồi say sưa nghe các nghệ nhân kể chuyện, trong đầu Vang luôn đeo đẳng câu hỏi tại sao làng mình có nhiều nghệ nhân giỏi như vậy mà nghề vẫn bị thất truyền. Chính vì vậy, ngay từ khi vẫn còn là cậu học trò, anh Vang đã luôn ấp ủ ý định theo nghề gốm để khôi phục lại thương hiệu gốm Bồ Bát.
 
Năm 2011, sau khi học xong phổ thông, anh đã khăn gói ra Bát Tràng để trực tiếp gặp các nghệ nhân xin học lại nghề gốm của Bồ Bát cũ. Sau 3 năm miệt mài học và làm nghề anh Vang cũng đã thuê được lò riêng ngay tại Bát Tràng và tự chế các tác phẩm mang thương hiệu Bồ Bát mang đi giới thiệu tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh. Sau hai năm vật lộn trên thị trường, có những khó khăn tưởng chừng như có thể đánh gục được ý chí của chàng thanh niên trẻ, nhưng nỗi niềm đau đáu nghĩ về nghề truyền thống đã mất của làng mình đã càng đốt cháy thêm quyết tâm của chàng trai nhiệt huyết này.
 
Cuối cùng, sau hai năm vật lộn vừa chế tác vừa đi giới  thiệu sản phẩm, anh Vang đã được 150 địa điểm ở thành phố Hồ Chí Minh ký hợp đồng mua hàng và cho thuê địa điểm để giới thiệu thương hiệu gốm Bồ Bát.
 
Năm 2006, anh Vang quyết định trở về làng Bạch Liên mở lò sản xuất gốm, lại bắt đầu một giai đoạn khó khăn mới. Trong khi hầu hết các làng gốm trong nước đều đang sản xuất đồ gốm sứ gia dụng, xưởng gốm mang thương hiệu Bồ Bát của anh Vang lại tập trung vào chế tác các đồ gốm trang sức và tranh gốm mỹ thuật. Anh Vang tâm sự thực tế làm gốm mỹ thuật hay gốm trang sức cũng chỉ là điểm khởi đầu để đưa thương hiệu của làng dễ đến được với nhiều vùng miền. Sắp tới gốm Bồ Bát sẽ tạo nét riêng bằng cách tự chế tạo men nhất là đối với dòng gốm sắc trắng từng một thời mang lại tiếng tăm cho làng gốm Bồ Bát xưa.
 
Những phấn đấu không ngừng nghỉ của anh Vang đã mang đến những thành công nhất định cho gốm Bồ Bát. Năm 2008, anh Vang là người đầu tiên mang sản phẩm gốm Bồ Bát đến giới thiệu tại triển lãm thủ công mỹ nghệ tại Hà Nội khiến không ít người ngạc nhiên khi được biết về dòng gốm đã thất truyền lâu năm. Đặc biệt là nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, gốm Bồ Bát cũng góp mặt trong triển lãm sản phẩm các làng nghề cổ truyền.
Tâm huyết sục sôi của chàng trai trẻ Phạm Văn Vang đã thổi bùng lại ngọn lửa lò gốm cổ vốn đã nguội tắt cách đây hàng trăm năm, làm sống lại thương hiệu gốm cồ Bồ Bát lừng danh một thời.
 
Việc phục dựng làng nghề lẽ ra phải là trách nhiệm của các sở, ngành, các ban phục dựng làng nghề, di sản văn hóa truyền thống vậy mà chỉ trông chờ vào một thanh niên trai trẻ, đơn thương độc mã loay hoay tìm về với làng cội.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Ngày nay với kiến trúc các khu chung cư hiện đại, các biệt thự hiện đại, việc trang trí không gian phòng khách bằng 1 bức tranh ghép khổ lớn sẽ tạo nên điểm nhấn cho phòng khách nhà bạn, với sự ấm áp của gốm, mát của sứ cùng với cách khắc họa hình ảnh làng quê Việt lên tranh, sự khéo léo thổi hồn vào các bức tranh càng làm cho phòng khách nhà bạn trở nên đẹp hơn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

 

 
Gốm sứ vẫn là mặt hàng xuất khẩu trong năm 2013

Gốm sứ vẫn là mặt hàng xuất khẩu trong năm 2013

Đó là chia sẻ của ông Lê Bá Ngọc, Tổng thư ký Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam về mặt hàng xuất khẩu trọng điểm của ngành trong năm 2013.
 
Ông Ngọc cũng cho biết, năm 2012 là năm ghi dấu những nỗ lực vượt bậc của các DN trong ngành. Với đặc thù là ngành xuất khẩu tới 90% sản phẩm, trong khi tình hình tại các thị trường nhập khẩu chính của ngành không hề khả quan, nhưng năm vừa qua, ngành thủ công mỹ nghệ vẫn đạt mức tăng trưởng 10% so với năm 2011, đạt 1,6 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu.
 
Gốm sứ và mây, tre, cói, thảm là hai nhóm hàng đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ trong năm qua. Theo đó, mặt hàng gốm sứ giữ vị trí số 1 khi đạt 431 triệu USD kim ngạch, tăng 12% so với cùng kỳ. Mặt hàng mây, tre, cói, thảm đứng ở vị trí thứ 2 với 211 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 10,5% so với cùng kỳ.
 
Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu sản phẩm gốm sứ lớn nhất của Việt Nam khi chiếm trên 16% tỷ trọng, đạt khoảng 65 triệu USD. Đài Loan là thị trường lớn thứ 2 với 13% tỷ trọng, đạt khoảng 51 triệu USD. Tiếp đến là một số thị trường như: Mỹ, Malaysia, Đức, Thái Lan, Hàn Quốc…
 
Theo ông Lê Bá Ngọc, không chỉ năm 2012 mặt hàng gốm sứ mới là điểm nhấn về kim ngạch xuất khẩu của ngành mà đây là truyền thống, là thế mạnh của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam khi gốm sứ luôn chiếm khoảng 40% tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của cả nước. Và “đây sẽ tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam trong năm 2013”, ông Lê Bá Ngọc khẳng định. Trong nhóm hàng gốm sứ xuất khẩu thì hàng gốm mỏng và gốm trang trí sân vườn của Việt Nam được các thị trường lớn như: Đài Loan, Mỹ, EU, Thụy Điển, Nga và đặc biệt là thị trường Nhật Bản ưa chuộng.
 
Bà Hà Thị Vinh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh (Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội) cho biết: Với đặc thù mỏng, nhẹ, kích thước nhỏ gọn, gốm mỏng luôn là lựa chọn hàng đầu của các nhà nhập khẩu, nhất là các nhà nhập khẩu đến từ Nhật Bản. Bản thân Quang Vinh không thiếu đơn hàng gốm mỏng. Ngay từ thời điểm cuối quý III của năm 2012, Quang Vinh đã nhận được các đơn đặt hàng cho hết quý II/2013. Mặc dù số lượng của mỗi đơn hàng không lớn nhưng trong bối cảnh chồng chất khó khăn từ phía các thị trường nhập khẩu thì đây thực sự là điều rất đáng mừng.
 
Tuy nhiên, Bà Vinh cũng khá lo lắng bởi cho dù ở thời điểm hiện tại dòng gốm mỏng đang chiếm ưu thế nhưng áp lực về mẫu mã, về giá cả… cũng đang là trở ngại lớn không chỉ cho Quang Vinh mà còn là khó khăn chung của các DN ngành gốm.
 
Giải thích rõ hơn về điều này, ông Lê Bá Ngọc cho biết, do mặt hàng gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam thuộc dòng sản phẩm trang trí, mà đã là sản phẩm trang trí thì vòng đời rất ngắn, nên đòi hỏi phải thường xuyên thay đổi mẫu mã. Trong khi đó, năng lực thiết kế mẫu mã của chúng ta còn rất hạn chế. Ngoài ra, tuy sản phẩm gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam độc đáo, mang tính nghệ thuật cao nhưng thường là đơn chiếc, lại sản xuất thủ công nên khả năng đáp ứng được đơn hàng lớn là rất khó.
 
Để khắc phục được những nhược điểm này, theo ông Ngọc, nhất thiết các DN trong ngành phải đầu tư thích đáng cho công nghệ sản xuất, cho khâu thiết kế, hạn chế dần sự phụ thuộc vào mẫu mã của nhà nhập khẩu. Đặc biệt, các DN cần phải nghiên cứu thị trường, cập nhật những quy định, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, nắm bắt xu hướng tiêu dùng… Có như thế mới tạo được tính “thời sự” cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm sứ xuất khẩu Việt Nam.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Gốm Giang Cao làng nghề truyền thống Hà Nội.

Gốm Giang Cao làng nghề truyền thống Hà Nội.

Nhắc đến nghề gốm sứ truyền thống, người ta thường hay nghĩ đến gốm Bát Tràng. Hầu như không ai biết bên cạnh Bát Tràng còn có một làng gốm Giang Cao. Không có lịch sử lâu đời tới cả vài trăm năm như gốm Bát Tràng, song gốm Giang Cao lại có sức bật trẻ của một làng nghề 60 năm tuổi vừa được công nhận là làng nghề truyền thống Hà Nội.
 
Xã Bát Tràng gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao, trước năm 1945 là hai xã riêng biệt. Giang Cao trước đây có tên gọi là làng Đông Sáng, sau đổi thành Đông Ca và đến thời nhà Nguyễn trước đời vua Ưng Xụy, niên hiệu Đồng Khánh được đổi thành Giang Cao. So với lịch sử của làng gốm Kim Lan (800 năm) và làng Bát Tràng (700 năm), làng gốm Giang Cao tuổi nghề còn khá trẻ (khoảng hơn 60 năm). 
 
Thấp tuổi làng trẻ tuổi nghề 
 
Sau gần một giờ xe chạy, trước mắt chúng tôi không phải là cảnh làng quê với những mái ngói đỏ tươi, ruộng đồng thẳng cánh cò bay mà là một làng nghề thịnh vượng với những dãy nhà cao tầng nối tiếp nhau, liền kề xưởng gốm. Sản phẩm gốm đủ chủng loại, màu sắc, kích cỡ được bày biện rất nghệ thuật, khách du lịch ra vào tấp nập.
 
Tiếp chúng tôi bên bình trà chính hiệu gốm Giang Cao, ông Lê Văn Cam, nghệ nhân của làng trầm ngâm: “Sau năm 1989 cả xã Bát Tràng trở thành một trung tâm gốm lớn. Ngày xưa, người dân Giang Cao không mở xưởng gốm mà chỉ đi làm thuê cho bên Bát Tràng. Đến thời Pháp thuộc, có ông Phán Sồ, đã đỗ tú tài, mở một xưởng gốm có tên là Ngọc Quang. Đó là xưởng gốm đầu tiên của làng Giang Cao. 
 
Từ xưởng gốm đầu tiên ấy, con cháu Giang Cao bắt đầu xây dựng những xưởng gốm của riêng mình. Đến nay, nghề gốm đã trở thành nghề truyền thống của cả làng”. Giang Cao có khoảng trên 900 hộ dân, thì toàn bộ làm gốm, trong đó có 41 công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân; còn lại số ít làm dịch vụ. So với Bát Tràng 700 năm tuổi, gốm Giang Cao ít được du khách biết đến hơn, số nghệ nhân đã được công nhận cũng ít hơn. 
 
Bù lại, Giang Cao có nhiều điều kiện thuận lợi như: đất đai còn rộng để phát triển, số nghệ nhân, số hộ, số doanh nghiệp đông hơn. Sự năng động, sáng tạo và sức bật của làng nghề trẻ đã giúp Giang Cao ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường. 
 
Theo ông Đào Xuân Hùng, Bí thư Đảng ủy -Chủ tịch UBND xã Bát Tràng, tổng thu nhập của cả xã Bát Tràng vào khoảng 2-3 triệu USD/ năm, thu nhập  cả xã lên tới 8 triệu USD/ năm, trong đó, Giang Cao chiếm xấp xỉ 50%, bình quân thu nhập của người dân là 28,5 triệu đồng/năm.
 
Người dân làng gốm cho biết, để có những sản phẩm chất lượng, đất sét phải mua từ làng Cổ Điền bên Vĩnh Phúc, hoặc mua từ làng Dâu bên Bắc Ninh. Đó là đất sét trắng, còn đất sét đỏ phải mua từ tận Hải Dương hay Thổ Hà - Bắc Ninh. Làng gốm có câu truyền miệng: “Nhất dáng, nhì men, rồi đến khắc, vẽ”. 
 
Gốm nơi đây từ xưa đã nổi tiếng về chất men phủ, phổ biến là men màu búp dong. Loại men này có độ trắng hơi ngả xanh hoặc xám, trong và sâu. 
 
Cũng theo ông Cam, thời xưa còn có loại men là men lý, men nho, màu gần như màu ngọc thạch nên được gọi là men ngọc, nhưng đã bị thất truyền từ lâu. Ngoài ra còn có các loại men rạn, men cát, men chảy, men kính, men co, men giả đá. Mỗi loại đều có những nét độc đáo riêng mà chỉ có người sành gốm mới có thể thẩm định được. 
 
Hiện nay, ở làng Giang Cao, hầu hết các lò gốm đã không còn dùng than, củi hay rơm rạ để đốt lò mà dùng lò công nghiệp bằng ga nên hạn chế được sự ô nhiễm môi trường, đồng thời cũng giảm được lượng phế phẩm. 
 
Có chỗ trên thị trường, vươn ra nước ngoài
 
Cùng với gốm Chu Đậu, Phù Lãng, Bàu Trúc, gốm Giang Cao đã được chọn để vinh danh cho gốm sứ truyền thống Việt Nam. Sản phẩm gạch hoa, ngói gốm, ngói sành của các công ty như Quang Minh, Thanh Hải cũng được dùng trong công trình phục hồi di tích Hoàng thành Thăng Long, cố đô Huế. 
 
Riêng trong năm 2012, làng đón tiếp tổng cộng 595 đoàn với trên 10.000 lượt khách quốc tế và hàng chục nghìn khách trong nước về thăm quan du lịch, ký kết hợp đồng kinh tế, mua hàng gốm sứ. Khách du lịch, nhất là khách nước ngoài thường ưa thích các sản phẩm men rạn hay hoa văn, hình dáng mang hơi hướng cổ điển.
 
Vươn ra khỏi thị trường trong nước, gốm Giang Cao hiện đã có mặt ở rất nhiều nơi trên thế giới. Thị trường gốm sứ Giang Cao không chỉ dừng lại ở các nước châu á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan mà còn sang cả Mỹ, úc và các nước EU. 
 
Nhiều sản phẩm gốm cổ của xã Bát Tràng đang được lưu giữ tại các viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện bảo tàng Royaux -Vương quốc Bỉ, Viện bảo tàng Guimet - Pháp là những nhịp cầu nối giúp thế giới biết nhiều hơn đến gốm Bát Tràng nói chung và Gốm Giang Cao nói riêng. Mỗi năm, có hàng triệu sản phẩm được đem ra thế giới, thu nhập từ xuất khẩu chiếm khoảng 30% tổng thu nhập của cả làng. 
 
Có những doanh nghiệp Hàn Quốc còn mang mẫu mã sang tận nơi để đặt hàng sản phẩm. Bảo tồn và phát triển là câu chuyện chung của tất cả các làng nghề truyền thống ở Việt Nam, không chỉ riêng với gốm Giang Cao, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng xâm nhập sâu tới các ngõ xóm, đường làng như hiện nay. 
 
Dạo quanh một loạt phòng trưng bày, giới thiệu sản phẩm, chúng tôi nhận thấy các mặt hàng đa phần không đề xuất xứ, hãng sản xuất. Đây là điều kiện thuận lợi cho hàng giả trà trộn.
 
Theo ông Đào Xuân Hùng, có một số hộ kinh doanh cá thể đưa thêm hàng Trung Quốc vào bán cùng, tuy không nhiều nhưng điều đó chắc chắn làm ảnh hưởng tới uy tín chất lượng, thương hiệu của làng. Bên cạnh việc tuyên truyền tới người dân, chính quyền xã cũng đã trình lên huyện việc đề nghị Sở Công Thương cấp tem bảo hộ và quy chế sử dụng tem để tránh hàng giả hàng nhái trà trộn vào sản phẩm Giang Cao, làm mọi cách giữ thương hiệu cho làng nghề.
 
Liên kết để bảo tồn, phát triển
 
Ở Giang Cao, hình thức đào tạo, truyền thụ nghề vẫn còn mang tính cá nhân, nhỏ lẻ. Xây dựng một trung tâm đào tạo nghề quy mô lớn do Hội gốm sứ trực tiếp đào tạo là mục tiêu trong tương lai gần của xã nhằm phổ biến kiến thức, nâng cao năng lực và thu hút người trẻ đến với nghề truyền thống. Hội gốm sứ cũng khuyến khích con em theo học các ngành nghề kỹ thuật, mỹ thuật... về phát triển tại địa phương.
 
Từ năm 2002, các nghệ nhân ở Giang Cao đã bắt đầu liên kết để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thông qua Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng. Những thành viên của hiệp hội không chỉ là những gia đình sản xuất gốm mà còn có cả các công ty kinh doanh gốm sứ. 
 
Thông qua hiệp hội, người dân có cơ hội tìm hiểu, nắm bắt thông tin về thị trường, các kiến thức mới trong công nghệ sản xuất gốm sứ, phương thức buôn bán thời thương mại điện tử và cách nâng cao năng lực cạnh tranh. 
 
Ông Hùng cũng cho biết thêm: bên cạnh chợ gốm làng cổ Bát Tràng khai trương tháng 11/2003, xã cũng đang tiếp tục xúc tiến các dự án xây dựng chợ chiều Giang Cao, cảng du lịch Bát Tràng giai đoạn hai, xây dựng bảo tàng gốm sứ, chợ kết hợp trưng bày và giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống gốm sứ Giang Cao. 
 
Mới đây, Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng đã thành lập Trung tâm xúc tiến xuất khẩu Bát Tràng, phối hợp với thành phố Hà Nội tổ chức lễ ra mắt Câu lạc bộ nghệ nhân làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng và tiến hành xây dựng thương hiệu “Bát Tràng Việt Nam - 1000 năm truyền thống”. 
 
Đi sâu vào trong làng, tôi bắt gặp nhiều hơn các xưởng gốm quy mô lớn có, vừa vừa có. Nhìn các nghệ nhân ngồi say sưa bên bàn xoay với thỏi đất chưa rõ hình hài, thật không thể không khâm phục những trí óc sáng tạo, những bàn tay tài hoa, điêu luyện ấy. Trong mỗi tác phẩm nghệ thuật đã được hoàn thành, tôi như nhìn thấy cả sự cần mẫn, tài năng và có lẽ là cả tâm hồn của người nghệ sỹ, tâm hồn người Việt, hồn dân tộc.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

 Ngày này có rất nhiều vật phẩm phong thủy giúp gia đình bạn được may mắn. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề chúng tôi đã tạo ra dòng sản phẩm Tượng sứ phong thủy mang thương hiệu Bát Tràng. Tượng sứ phong thủy là sản phẩm hoàn hảo được tạo bởi các nghệ nhân sứ Bát Tràng. Các nghệ nhân đã thổi hồn vào đó khiến các bức tượng trông rất thật và biểu cảm

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

 

 
Phục dựng dòng gốm Chu Đậu

Phục dựng dòng gốm Chu Đậu

Trong dân gian truyền miệng “Sứ nhất sứ Giang Tây, Gốm nhất gốm Chu Đậu” đủ thấy dòng gốm này được đánh giá cao đến mức nào. Phát triển rực rỡ trong suốt thời Lý – Trần – Lê – Mạc (thế kỷ XV-XVII) nhưng do những biến cố của lịch sử dòng gốm Chu Đậu - tuyệt đỉnh của Gốm cổ Việt Nam - bị thất truyền hơn 500 năm qua.
 
Lai lịch dòng gốm cổ
 
Làng Chu Đậu là một vùng quê yên ả bên tả ngạn sông Thái Bình, từ lâu nổi tiếng về nghề dệt chiếu. Nhắc đến “chiếu Đậu” thì người Bắc nào cũng biết. Nhưng nói về gốm Chu Đậu thì hầu như chẳng ai biết gì, bởi suốt nhiều thế kỷ qua, nghề gốm Chu Đậu đã thất truyền. Những bí mật sẽ mãi nằm sâu trong lòng đất, nếu không có một biến cố bất ngờ.
 
Năm 1980 ông Makato Anabuki - Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, trong một chuyến đi công tác ở Thổ Nhĩ Kỳ đã nhìn thấy một chiếc bình gốm hoa lam, trang trí hoa sen và cúc dây cao 54 cm được trưng bày tại Viện Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul . T
 
rên vai bình có ghi 13 chữ Hán “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút”, nghĩa là “Năm Thái Hòa thứ tám (1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách vẽ chơi”. Vốn đã có thâm niên công tác tại Việt Nam và đặc biệt cũng là một người say mê gốm cổ, ông Makato Anabuki đã xác định bình gốm cổ này có xuất xứ từ Việt Nam.
 
Sau đó ông đã viết một lá thư gửi ông Ngô Duy Đông (lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương – tên cũ là Hải Hưng) nhờ xác minh giúp xem chiếc bình gốm quý giá đó có xuất xứ từ làng gốm nào.
 
Từ  thông tin trên, bảo tàng, sở Văn Hóa, các nhà nghiên cứu của Hải Dương đã vào cuộc sưu tầm những dấu vết về làng gốm cổ.
 
Năm 1986, người ta khai quật di tích Chu Đậu thuộc thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương. Kết quả đã tìm thấy nhiều di vật gốm mỹ nghệ cao cấp mà từ trước đến nay chưa từng được phát hiện, cũng như chứng tỏ nơi đây từng là một trung tâm sản xuất gốm lớn của Việt Nam .
 
Năm 1999, khi con tàu đắm ở Cù Lao Chàm (Hội An) và Pandanan (Philippines) được trục vớt đã thu vớt hơn 20 vạn sản phẩm có xuất xứ từ Chu Đậu. Chứng tỏ thời kỳ hoàng kim,  gốm Chu Đậu đã giao thương buôn bán không chỉ trong khu vực mà còn vươn ra với thế giới (Hiện nay người ta đã thống kê được Gốm Chu Đậu đang được trân trọng lưu giữ tại 46 bảo tàng danh tiếng ở hơn 30 quốc gia trên khắp thế giới).
 
Gốm cổ hồi sinh
 
Đến thăm Chu Đậu vào ngày cuối đông, rất may mắn tôi được gặp ông Nguyễn Văn Lưu- giám đốc xí nghiệp gốm Chu Đậu. Ấn tượng đầu tiên về ông là vẻ rắn rỏi, cương nghị và hồn hậu đậm chất “lính”.
 
Ông dẫn tôi đi một vòng thăm Xí nghiệp trên diện tích gần 4 hecta và kể về quy trình tạo ra một sản phẩm gốm. Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất (Đất sét ở Chu Đậu lấy từ vùng thổ nhưỡng trầm tích phù sa của 6 con sông lớn – Lục Đầu Giang: sông Lục Nam, Sông Thương, Sông Cầu, Sông Đuống, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình).
 
Sau đó đất được tạo dáng "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay. Để tạo hoa văn, thợ gốm dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoạ tiết; phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm.Vì thế mà các nhà nghiên cứu mới đúc kết quy trình sản xuất ra gốm Chu Đậu mang đầy tính tâm linh: Đất tạo nên xương cốt, nước tạo ra hình hài, lửa tạo ra thần thái! Đó là sự kết hợp hài hòa của âm dương ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ).
 
Khi được hỏi về quá trình “phục hưng” gốm cổ ông hào hứng “Năm 2000, khi tôi đang làm trưởng phòng gốm mỹ nghệ của Haprosimex thuộc Tổng Công ty Thương mại Hà Nội có thương hiệu là Hapro tại TPHCM thì Báo Sài Gòn Giải Phóng đăng tin trục vớt một con tàu ở Cù lao Tràm – Quảng Ngãi trong đó có 40 vạn cổ vật được xác định là gốm Chu Đậu của quê hương Nam Sách chúng tôi. Anh Nguyễn Hữu Thắng – Tổng giám đốc Hapro cũng là một người con của sông Kinh Thầy nảy ra ý tưởng cử tôi về quê, phục hưng nghề gốm của quê hương...
 
Nói đến đây giọng ông bỗng chùng xuống “Có ý tưởng, quyết tâm như vậy nhưng ngày đầu về đây thì khó khăn trùng trùng. 10 năm trước Chu Đậu còn là một làng quê nghèo, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông và dệt chiếu cói.
 
Đất nơi này lúc đó là sình lầy, hoang vu, đường giao thông còn chưa có. Nhưng điều khó khăn nhất là nghề gốm Chu Đậu ngày xưa hoàn toàn không còn trong tâm thức của người dân ở đây. Các nghệ nhân xưa cũng không còn một ai, các bí quyết cũng đã bị thất truyền.
 
Năm 2001, chúng tôi đã đi khắp nơi mời được hơn chục nghệ nhân nổi tiếng, từ Nam ra Bắc, những nhà khoa học... trong đó có những nghệ nhân nổi tiếng khu vực và Việt Nam như nghệ nhân – Bàn tay vàng Đông Dương Vũ Thế Cửu, nghệ nhân - Hoạ sĩ Vũ Bá Định, Tiến sĩ hoá Nguyễn Năng Thi... Chính họ đã cùng chúng tôi bỏ nhiều công sức để tìm tòi, nghiên cứu và đặt những dấu ấn đầu tiên phục dựng lại nghề gốm Chu Đậu, từ việc mô phỏng lại kiểu dáng gốm cổ, chất liệu, màu men, cách thức sản xuất...
 
Sau đó, chúng tôi đã tổ chức mở nhiều khoá học cho con em ở địa phương về kiến thức làm gốm, thu nhận họ về Xí nghiệp và trở thành những người thợ gốm .Đào tạo thợ cũng gian nan không kém, 300 em thì chỉ có khoảng 15-20 em thành thợ gốm. Khả năng về kỹ thuật thì có thể dạy được nhưng năng khiếu về thẩm mỹ, cái “duyên” về nghề thì do “trời ban”.
 
Ông Lưu giải thích “Gốm Chu Đậu ngày nay không sản xuất đồng loạt, dùng máy mà tất cả dùng tay. Từ công đoạn tạo dáng, người thợ phải dùng tay “vuốt” trên  bàn xoay để tạo hình cho sản phẩm. Đến công đoạn tạo hoa văn, người thợ gốm vẽ trực tiếp vào mỗi sản phẩm, vì thế mỗi sản phẩm sản xuất ra ở đây có thể nói là “độc nhất vô nhị”.
 
Cũng là những bình hoa lam, bình tỳ bà, lọ hoa, chén đĩa hay những khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống của cư dân đồng bằng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, chim đậu trên cành hoa, đàn cá bơi dưới nước, mái nhà tranh ven sông... nhưng dưới sự “nhạy cảm” của đôi bàn tay, mỗi sản phẩm trở thành một tác phẩm mang cái thần, cái hồn rất riêng của mỗi người thợ gốm.
 
Đưa tôi đến phòng trưng bày sản phẩm của Xí nghiệp, diện tích 1.000m2   với hàng ngàn, hàng vạn các sản phẩm đủ loại kiểu dáng, kích cỡ, hoa văn, họa tiết ,ông Lưu phấn khởi khoe “Bước đầu khó khăn là thế, nhưng 10 năm qua gốm Chu Đậu đã tồn tại và từng bước khẳng định được vị thế của mình. Hiện nay mỗi năm Chu Đậu sản xuất ra hơn chục triệu sản phẩm Các sản phẩm gốm sản xuất ra không chỉ tiêu thụ mạnh trong nội địa mà còn xuất đi trên 50 quốc gia thế giới như châu Âu, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Nhật, Hàn Quốc. Đặc biệt người Nhật rất chuộng dòng sản phẩm này và chén, ấm uống trà của Trà đạo Nhật Bản chính là những sản phẩm của dòng gốm Chu Đậu.
 
Cầm trên tay một chiếc hoa lam tôi hỏi ông: - Chiếc bình ở Istanbul giống như chiếc bình này phải không ạ?
 
Ông Lưu cười, cái cười hào sảng hồn hậu rất “lính” – Không đâu, chiếc bình ở Istanbul hiện giờ có giá khoảng hơn một triệu đô, còn cái bình cháu cầm thì chỉ đáng giá vài trăm ngàn đồng Việt Nam và chú có thể tặng cháu.
 
Rồi ông giải thích ngay: Đỉnh cao của gốm được gói gọn trong 5 tiêu chí, đó là: Trong như ngọc, trắng như ngà, mỏng như giấy, sáng như gương và kêu như chuông. Đến nay gốm Chu Đậu do chúng tôi sản xuất cũng đã hội tụ gần đủ cả 5 yếu tố đó. Tuy nhiên, do các bí kíp đã thất truyền, nên một số đặc tính gia truyền của gốm Chu Đậu cổ chúng tôi vẫn chưa nghiên cứu và phỏng theo hết được. Đặc biệt là loại men “Tam Thái” – men ba màu đặc sắc của gốm Chu Đậu cổ xưa. Thế mới thấy cái tài hoa, cái kỳ diệu của ông cha ta.
 
Cầm chiếc bình gốm trên tay ngoài sự khâm phục, tự hào đối với thế hệ cha ông đã tạo ra được dòng gốm nổi tiếng khắp thế giới cách đây hàng thế kỷ, tôi còn cảm phục cái tài và cái tâm của những người con đất Việt bảo tồn và phát huy được Gốm Chu Đậu, một dòng gốm mang bản sắc thuần Việt, có giá trị lịch sử, văn hoá sâu sắc là một điều đáng trân trọng , tự hào.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Cùng với gốm Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu... nổi tiếng của khu vực phía Bắc, làng gốm Trù Sơn (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) là một trong những “cái nôi” về gốm nổi tiếng ở khu vực Bắc Trung bộ. Nhưng hiện nay, gốm Trù Sơn đang đứng trước nguy cơ mai một, vì không tìm được đầu ra, chưa được sự quan tâm và đầu tư thích đáng...
 
Ở Trù Sơn hiện nay, những phụ nữ tầm tuổi sinh khoảng 1954 - 1970 vừa là “bà chủ” vừa là thợ chính, còn những phụ nữ sinh trước 1954 do điều kiện và sức khỏe nên đi làm giúp và truyền lại nghề. Gọi là truyền nghề, nhưng thực chất là truyền cho những người đã... biết rồi, còn lứa tuổi sinh từ sau năm 1970 không mấy ai tập làm nghề này nữa, thế hệ trẻ sau này càng không có người.
 
Chúng tôi vào xóm 11, chỉ thấy chị Nguyễn Thị Hồng lủi thủi ngồi “vắt” đất nặn nồi một mình. để có được sản phẩm gốm, chồng chị Hồng phải sang xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) đào đất sét chở về, sau đó phải đạp đất cho nhuyễn, lọc sạn, cắt... “vắt” rồi nặn. Sau công đoạn nặn là đem phơi nắng cho khô và cuối cùng bỏ lò nung 4 - 5 giờ, tùy theo sản phẩm có được nắng hay không. Đó là chưa kể công đem đi “rao khắp nơi” bán hàng.
 
Chị Hồng tâm sự rằng làm nghề này “ức” nhất là phơi sản phẩm gặp trời mưa. Có bữa đang ăn cơm, mưa bất ngờ đổ xuống, chạy ra “cứu” được “hắn”, quay vô nhà thì bữa cơm đã bị chó, mèo “ăn tan”. Cực vậy, nhưng sản phẩm làm ra, cũng chỉ được từ 4.000 đồng/cái cho đến tầm 10.000 đồng, 25.000 đồng/cái... (bán tại chỗ). Nếu muốn bán được giá thì phải chở vào TP Vinh, Hà Tĩnh, ra Thanh Hóa, Ninh Bình... 
 
Về Trù Sơn hôm nay, nếu không được biết trước sẽ khó có thể nhận ra nơi đây có một làng nghề làm đồ gốm. Các dấu tích của làng nghề đã bị che khuất bởi nhà cửa, tường rào... Anh Nguyễn Hữu Lịch, Phó Chủ tịch UBND xã Trù Sơn cho biết, trước đây, việc làm nghề gần như quanh năm, rộ lên vào 3 tháng áp tết. Nhưng sau này, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cơ chế thị trường, nghề không còn hợp với lớp người trẻ, vốn ít, thu nhập từ nghề thấp... nên nghề chỉ còn chủ yếu ở xóm 10 và 11 với khoảng 40 hộ làm thường xuyên.
 
Theo đánh giá, trong khi gốm Hải Dương đa dạng, hình thức đẹp, được tráng men... thì gốm Trù Sơn còn đơn giản, làm bằng phương pháp thủ công, không tráng men, chỉ có màu đất. Nhưng có lẽ, chính vì “chỉ có màu đất” nên gốm Trù Sơn có nét đặc trưng riêng. Đất làm gốm được lấy chủ yếu từ xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc), hoặc xa hơn nữa tận xã Sơn Thành (huyện Yên Thành). Đây là loại đất sét mịn, khá “trong”, ít cợn... Thông thường, khi được đào sâu xuống tầm 1m thì mới có loại đất cần tìm, đó là đất sét trắng.
 
Nhưng điều đặc biệt là từ màu trắng này, sau khi được nung lên qua lửa đỏ thì sẽ cho ra màu đỏ - hồng như màu bình minh rất đẹp. “Người ta thì “cô” vàng, còn người quê tui “cô” mồ hôi” - anh Lịch ví von. Chính vì nghề “bạc” nên hiện không mấy ai muốn theo nghề. Nhiều nhiệm kỳ xã đã đưa vấn đề phát triển làng nghề vào nghị quyết, nhưng đến nay vẫn chưa đâu vào đâu. 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Chiếc bát gốm cổ từ thời nhà Tống giá 46 tỉ đồng

Chiếc bát gốm cổ từ thời nhà Tống giá 46 tỉ đồng

2,23 triệu USD (khoảng 46 tỉ đồng) là giá cuối cùng của một chiếc bát gốm bán tại nhà đấu giá Sotheby ở New York, (Mỹ) ngày 19/3. 
 
Chiếc bát này đã trở thành một món hời đầy bất ngờ cho người chủ sở hữu khi họ từng mua nó với giá chỉ... 3 USD. 
 
Chủ nhân của món đồ cho biết họ mua chiếc bát từ năm 2007 tại một sạp hàng đường phố với giá chỉ vài USD. Sau nhiều năm trưng bày trong phòng khách, gần đây họ quyết định mang chiếc bát tới nhờ các chuyên gia đánh giá. 
 
Nhà đấu giá Sotheby ước tính chiếc bát có giá từ 200.000 - 300.000 USD. Tuy nhiên, nhờ sự cạnh tranh quyết liệt giữa 4 người mua, giá cuối cùng của chiếc bát gốm đã được đẩy lên 2,225 triệu USD và thuộc về nhà buôn đồ cổ nổi tiếng người Anh Giuseppe Eshenazi.
 
Chiếc bát gốm là một sản phẩm được chế tác tinh xảo với lớp men màu ngà, được xác định có tuổi đời 1.000 năm tuổi và xuất xứ từ thời nhà Tống, triều đại trị vì Trung Hoa từ năm 960 - 1279. 
 
Trên thế giới hiện nay, chỉ có hai chiếc bát xuất xứ từ thời Tống được phát hiện, chiếc còn lại hiện được trưng bày tại Bảo tàng Anh quốc từ hơn 60 năm qua.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
 
Bạn đang xem:Tranh gốm Bát Tràng: Cảnh Thiếu nữ gội đầu - Gốm sứ nội thất Tranh gốm Bát Tràng: Cảnh Thiếu nữ gội đầu - Gốm sứ nội thất
9.4/10 -  4 bình chọn
Trang chủ
Gốm sứ nội thất
Tranh ốp tường, trang trí

Cơ sở sản xuất Nội Thất Thời Nay

Hotline: 0979 892 690
Email: sales.noithatthoinay@gmail.com

Địa chỉ Cơ sở 1:   Số 14, ngõ 59, phố Nam Dư, Lĩnh Nam, Hà Nội

              Cơ sở 2:   Số 4, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội

Copyright © 2012. Thiết kế bởi noithatthoinay.com

LiveZilla Live Help
Text Link:YH:dungnt_23121988 : ||| sửa chữa cửa cuốn , sửa cửa cuốn , máy sấy tay , máy sấy tay Panasonic , máy đánh giầy , máy đánh giầy Shiny , máy đánh giầy Silroad , xe đẩy hàng , xe đẩy hàng Phong Thạch , xe đẩy hàng Prestar Japan ,