Logo
 
Hotline: 0934 231 288
Banner Sub 1
KHÔNG GIAN NỘI THẤT GỐM SỨ
Mr. Dũng Kinh doanh: Mr. Dũng Mr. Dũng Kỹ thuật: Mr. Dũng

Tranh gốm Bát Tràng: Cảnh Thiếu nữ gội đầu

Bạn hãy bình chọn cho sản phẩm:

Số lần Vote: 4 lượt/ Số lượt xem: 522

Thông số sản phẩm

Mã sản phẩm: TGB-100002

Nhà sản xuất: Nội Thất Thời Nay

Giá: Liên hệ với chúng tôi
 
  • Mô tả sản phẩm
  • Cửa hàng
  • Giới thiệu nhà sản xuất
  • Nhận xét sản phẩm
  • Chế độ bảo hành

Để biết được thông tin chi tiết về sản phẩm quý khách xin vui lòng liên hệ với chúng tôi

Sản phẩm này chưa có tại hệ thống Đại Lý của chúng tôi. Xin vui lòng liên hệ

Nội thất Thời Nay là một doanh nghiệp hoat động chuyên nghiệp trong lĩnh vực thiết kế kiến trúc, thiết kế nội thất, thi công nội thất. Đến nay chúng tối đã thiết kế và thi công rất nhiều các công trình  như: Công nghiệp, nhà hàng, khách sạn, văn phòng cao cấp, tòa nhà, chung cư…..

Tất cả những sản phẩm mà chúng tôi mang lại luôn đảm bảo tính kỹ thuật, thẩm mỹ cao; giá thành rẻ và bảo hành dài hạn. Chúng tôi luôn tạo ra những sản phẩm hiện đại và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, và các hộ gia đình.

Đối tác chiến lược của chúng tôi là các công ty chuyên thiết kế, đồ họa; các dự án nội thất là các văn phòng, cao ốc cho thuê, các chung cư, trường học, bệnh viện…. Ngoài ra, chúng tôi cũng luôn là đối tác trung thành của các hộ gia đình mong muốn thụ hưởng trong một không gian nội thất nhà đẹp.

Với phương châm “ Rẻ – đẹp – chất lượng”, Nội thất Thời Nay luôn là địa chỉ đáng tin cậy cho mọi không gian đẹp của doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân.

SỨ MỆNH

Nội thất Thời Nay luôn là nơi đem lại những không gian đẹp cho mọi giới tầng của xã hội.

TẦM NHÌN

Nội thất Thời Nay sẽ trở thành đỉnh cao về vẻ đẹp không gian của mọi thời đại đáp ứng đủ mọi yêu cầu của xã hội trong thời đại mới – Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 

Chưa có bình luận cho sản phẩm này. Bạn hãy bình luận cho sản phẩm

Tất cả các sản phẩm của Nội thất Thời Nay đều được bảo hành từ 6 đến 12 tháng kể từ ngày giao hàng.
 
Tất cả những sản phẩm do lỗi trong quá trình sản xuất, lỗi kỹ thuật, kết cấu, bong tróc sơn, mối mọt đều được bảo hành.
 
Phương thức bảo hành: Nhân viên của Nội thất Thời Nay sẽ đến nhà của quý khách để khắc phục sự cố. Nếu nghiêm trọng chúng tôi sẽ thay thế sản phẩm tương tự hoàn toàn mới hoặc hoàn trả lại sản phẩm mà không tốn thêm chi phí nào.
 
Khi sản phẩm xảy ra sự cố, hãy liên lạc với bộ phận Hỗ Trợ Bán Hàng, chúng tôi sẽ sắp xếp nhân viên đến khắc phục trong thời gian sớm nhất.
 
Chúng tôi sẵn sàng cho quý khách trả hàng đã mua khi quý khách nhận được món hàng không giống như những gì đã được mô tả trên Nội thất Thời Nay. Khi trả hàng quý khách chỉ phải thanh toán phần chi phí vận chuyển một chiều. Sau khi việc giao hàng đã hoàn tất (vận chuyển, lắp ráp, đã thanh toán tiền) chúng tôi sẽ không chấp nhận việc trả hàng nữa.
 

 

CÁC CÔNG TRÌNH THI CÔNG

Sản Phẩm Tương Tự

Bài viết tiêu điểm

Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà

Đây không phải là lựa chọn số một về sự sắp đặt trưng bày sưu tập ấm trà , tuy nhiên kệ gổ thiết kế thích hợp sẻ tôn lên giá trị vật trưng bày và thu hút khách thưởng ngoạn. Kiểu thức trang trí này dường như phù hợp với nội thất phương Đông.
 
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Chiếc bát gốm cổ từ thời nhà Tống giá 46 tỉ đồng

Chiếc bát gốm cổ từ thời nhà Tống giá 46 tỉ đồng

2,23 triệu USD (khoảng 46 tỉ đồng) là giá cuối cùng của một chiếc bát gốm bán tại nhà đấu giá Sotheby ở New York, (Mỹ) ngày 19/3. 
 
Chiếc bát này đã trở thành một món hời đầy bất ngờ cho người chủ sở hữu khi họ từng mua nó với giá chỉ... 3 USD. 
 
Chủ nhân của món đồ cho biết họ mua chiếc bát từ năm 2007 tại một sạp hàng đường phố với giá chỉ vài USD. Sau nhiều năm trưng bày trong phòng khách, gần đây họ quyết định mang chiếc bát tới nhờ các chuyên gia đánh giá. 
 
Nhà đấu giá Sotheby ước tính chiếc bát có giá từ 200.000 - 300.000 USD. Tuy nhiên, nhờ sự cạnh tranh quyết liệt giữa 4 người mua, giá cuối cùng của chiếc bát gốm đã được đẩy lên 2,225 triệu USD và thuộc về nhà buôn đồ cổ nổi tiếng người Anh Giuseppe Eshenazi.
 
Chiếc bát gốm là một sản phẩm được chế tác tinh xảo với lớp men màu ngà, được xác định có tuổi đời 1.000 năm tuổi và xuất xứ từ thời nhà Tống, triều đại trị vì Trung Hoa từ năm 960 - 1279. 
 
Trên thế giới hiện nay, chỉ có hai chiếc bát xuất xứ từ thời Tống được phát hiện, chiếc còn lại hiện được trưng bày tại Bảo tàng Anh quốc từ hơn 60 năm qua.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

 Ngày này có rất nhiều vật phẩm phong thủy giúp gia đình bạn được may mắn. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề chúng tôi đã tạo ra dòng sản phẩm Tượng sứ phong thủy mang thương hiệu Bát Tràng. Tượng sứ phong thủy là sản phẩm hoàn hảo được tạo bởi các nghệ nhân sứ Bát Tràng. Các nghệ nhân đã thổi hồn vào đó khiến các bức tượng trông rất thật và biểu cảm

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

 

 
Lòng mê nghề của ông chủ gốm sứ Minh Long

Lòng mê nghề của ông chủ gốm sứ Minh Long

Trong số nhiều tấm gương khởi nghiệp thành công, có người làm nên nhờ táo bạo trong kinh doanh, có người lại nhờ sự đam mê nghiên cứu đổi mới công nghệ. Lý Ngọc Minh tiêu biểu cho cả hai hình mẫu, và điều đáng nói là ông chưa từng qua trường lớp chính quy nào.
 
Khó có thể hình dung được những sản phẩm gốm sứ chất lượng cao nổi tiếng với doanh thu hàng nghìn tỷ đồng, đã chinh phục được nhiều thị trường trên thế giới, với một số tính năng vượt trội hơn cả sản phẩm của những hãng gốm sứ quốc tế danh tiếng hàng đầu, lại là kết quả của một quá trình mày mò tự nghiên cứu của một người chủ chưa từng qua đào tạo chính quy về gốm, và trình độ học vấn chưa qua lớp 4 trường làng. Ông hóm hỉnh gọi nhà máy của mình là trường học đại, vì “nơi đây toàn những người xuất phát không hiểu biết gì về công nghệ gốm sứ, cũng không qua trường lớp đào tạo chính quy về nghề này”.
 
Quyết tâm làm chủ công nghệ
 
“Tôi mê nghề chứ không quá ham chuyện kiếm tiền. Chính sự mê nghề đã tạo cho tôi bản lĩnh và sự bạo dạn, và cho phép mình đầu tư những khoản đầu tư lớn, dù có thể không đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn nhưng đem lại thành tựu kỹ thuật. Đối với tôi, thành tựu kỹ thuật quan trọng hơn thành tựu kinh tế”. 
    
Với xuất phát điểm từ chỗ thiếu cả kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức chuyên môn, ông Lý Ngọc Minh và những cộng sự của mình đã phải tự mày mò tìm hiểu, nghiên cứu, và học hỏi liên tục. Chính nhờ quá trình học hỏi liên tục mà hoạt động và kỹ thuật sản xuất của công ty không ngừng được cải tiến, nhiều công nghệ và thiết bị được công ty áp dụng và sửa đổi lại vừa phù hợp với ý muốn của mình, vừa giảm bớt sự phụ thuộc vào nước ngoài. 
 
Ví dụ như loại bột tạo phôi mà ở nước ngoài các công ty gốm sứ phải lấy nguồn cung cấp từ các nhà sản xuất chuyên trách, trong đó đòi hỏi máy móc hiện đại và kỹ thuật rất cao, nhưng Minh Long hoàn toàn tự chủ động sản xuất lấy. “Nếu nhập của nước ngoài thì thời gian chậm quá, không kịp phục vụ sản xuất, và mỗi khi cần thay đổi một loại đất nào đó thì lại gặp khó khăn. Mặc dù tự sản xuất thì cũng khá vất vả nhưng chi phí vẫn rẻ hơn, giúp tiết kiệm 30 - 50% so với nhập của nước ngoài”, ông Minh giải thích. 
 
Một ví dụ khác là các loại khuôn đặc chủng mà trước đây Minh Long bắt buộc phải nhập khẩu từ nước ngoài và gặp hạn chế là mỗi nhà máy của họ chỉ sản xuất được 100-200 chủng loại khuôn, trong khi Minh Long phải sản xuất tới cả nghìn chủng loại khác nhau nhằm đáp ứng đặc thù văn hóa người tiêu dùng của Việt Nam vốn luôn đòi hỏi sự phong phú về kiểu dáng, mẫu mã. Vì vậy, sau gần 10 năm từ học hỏi cách bố trí máy móc, thiết bị, phần mềm, huấn luyện tạo đội ngũ người làm, và liên tục cải tiến, Minh Long đã tạo ra được một quy trình sản xuất khuôn suôn sẻ, với giá thành chỉ bằng một phần tư giá nhập khẩu.   
 
Phần lớn các đổi mới công nghệ tại Minh Long chủ yếu do ban giám đốc nghiên cứu, khảo sát, từ đó đề ra những ý tưởng đổi mới, và tự tìm cách xử lý các vướng mắc”, ông Minh lý giải. Chẳng hạn như với công nghệ men chống bám dính, khi nghe nói trên thế giới có công nghệ men giúp gốm sứ không bám bẩn dầu mỡ, ông Lý Ngọc Minh và ban giám đốc đã tự tìm hiểu về nguyên lý chế ra men đạt tới kích thước nano để có độ bóng và chống bám dính như mong muốn, rồi cũng tự họ nghiên cứu tìm mua máy móc về sản xuất lấy. Những máy móc này, cũng như đa số các thiết bị nhập khẩu khác từ nước ngoài, khi nhập về Minh Long luôn tìm cách học cách tự cài đặt sử dụng để khi không có chuyên gia nước ngoài thì công ty vẫn có thể tự chủ được. “Kể cả khi một số linh kiện hư hỏng chúng tôi cũng tự chế tạo được để có thể sử dụng tạm thời khi chưa có linh kiện nhập thay thế”, ông Minh tự tin khẳng định. 
 
Màu và men: làm được điều thế giới chưa làm được
 
Từ khi mới xuất hiện, gốm sứ Minh Long đã nổi tiếng vì độ trắng bóng, và trong thời gian liên tục mười mấy năm những phẩm chất này vẫn liên tục được cải tiến nâng cao. “Tới nay, độ trắng bóng của gốm sứ Minh Long gần như đạt tới tuyệt đối”, ông Minh khẳng định. Theo ông, trong số hàng nghìn hãng gốm sứ trên thế giới, chỉ có khoảng năm hãng có chất lượng tương đương với Minh Long về độ trắng, độ bóng, độ cứng, và không có hãng nào, dù là của Đức, Pháp, hay Nhật, hơn được sản phẩm của Minh Long về các tiêu chí này. 
 
Bên cạnh đó, tất cả những hãng gốm nổi tiếng về kỹ thuật vẽ gốm bằng tay – như hãng Meissen của Đức và Herend của Hungary nổi tiếng về vẽ tay trên bình hoa, hay hãng Royal Copenhagen của Đan Mạch đứng đầu về vẽ tay trên chén, đĩa – đều phải dùng công nghệ truyền thống là nung sản phẩm ở nhiệt độ 800 – 850 độ C, trong khi công nghệ gốm vẽ tay của Minh Long cho phép nung sản phẩm tới nhiệt độ 1230 – 1250 độ C. Ông Minh khẳng định rằng sự vượt trội này về công nghệ khiến sản phẩm vẽ tay của Minh Long đứng xa thấy đẹp, lại gần thì mịn màng, sờ vào thấy mát, còn sản phẩm vẽ tay của nước ngoài có thể đứng xa thấy đẹp nhưng lại gần thấy màu men bị đục, sờ vào thấy cộm. Nhìn vào những sản phẩm này của nước ngoài không thể thấy chiều sâu của họa tiết, trong khi nhìn vào họa tiết của Minh Long dưới lớp men được nung ở nhiệt độ cao đem lại hiệu ứng ba chiều và độ sâu, tạo cảm giác sinh động hơn. 
 
Đồng thời, trên thế giới cũng chưa có hãng gốm nào có được một số màu sắc đặc biệt như sản phẩm của Minh Long khi nung ở nhiệt độ cao, ví dụ như màu đỏ sậm, hay màu xanh dương – để trong phòng thì là màu xanh thẫm, khi mang ra ngoài sáng thành tươi màu thiên thanh – mà ông Minh gọi là màu king blue. Với nhiệt độ nung tối đa là 850 độ C mà công nghệ chung của thế giới hiện nay đang áp dụng, khi sản phẩm tiếp xúc lâu với mưa, nắng, hoặc gặp môi trường khắc nghiệt như kiềm, mặn, hay chua (tiếp xúc với chanh, dấm) thì men có thể sẽ bị bong tróc hoặc phai mờ. Ngoài vấn đề về thẩm mỹ, điều này còn gây nguy hại cho người sử dụng, vì men chính là lớp bảo vệ ngăn chất độc – thông thường các sản phẩm màu đẹp, như các màu đỏ, vàng chanh, hay vàng cam, thì đều có cadmidium, hoặc một số sản phẩm gốm sứ của Trung Quốc dùng màu pha chì cũng rất độc hại nếu bị hỏng lớp men bảo vệ. Nhưng với sản phẩm của Minh Long, ông Minh khẳng định rằng lớp men bảo vệ sau khi trải qua nhiệt độ nung cao sẽ tồn tại được bền vững “hàng nghìn năm mà không gặp vấn đề gì”, và ngăn được chất độc tiết ra từ màu khi sản phẩm trong quá trình sử dụng tiếp xúc lâu với kiềm hay axit. Cũng nhờ bảo đảm an toàn như vậy nên sản phẩm của Minh Long dễ dàng vượt qua được các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật của những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản. 
 
Khi được hỏi vì sao các hãng làm gốm vẽ tay trên thế giới không nung được ở nhiệt độ cao như Minh Long, ông Minh nói: “Vì công nghệ của chúng tôi rất khó”. Khi gốm được nung ở nhiệt độ cao, men và màu cùng bị tan chảy và thay đổi về cấu trúc cũng như bước sóng ánh sáng khi nhìn vào, khiến hình ảnh và màu sắc cũng bị thay đổi không còn được như ý muốn ban đầu của người nghệ nhân. Ngoài ra, khi men nóng chảy thì màu vẽ bên dưới cũng có thể bị rung, nhòe, dịch chuyển, khiến nét vẽ bị biến đổi, ông nói. Tuy nhiên, ông không tiết lộ chi tiết bí quyết giúp Minh Long vượt qua những khó khăn kỹ thuật này. “Đơn giản là chúng tôi nắm vững và vận dụng một số kiến thức vật lý, và trong chừng mực nào đó biết cách làm ảo thuật– những nhà ảo thuật đều là những người giỏi vận dụng các kỹ thuật vật lý – để có thể đạt được những kết quả mà người khác không đạt được”.   
 
Linh tính và những may mắn tình cờ 
 
Nói về bí quyết thành công của bản thân, ông Minh khiêm tốn cho rằng mình là người gặp nhiều may mắn. Ông kể nhiều câu chuyện để chứng minh cho sự may mắn của mình. Một lần ông đóng vai là người đang tìm mua lò gốm vào tham quan một nhà máy sản xuất gốm ở châu Âu, kỳ thực là ngầm tìm cách học hỏi về cách bố trí máy móc của xưởng gốm. Nhưng người quản lý nhà máy hôm đó đoán được ý định của ông nên chỉ cho ông đứng xem lò chứ không cho tự do đi xem những nơi khác. “Tôi đứng đó hết một buổi mà không có cách gì khác, đành phải thất vọng đi về, trong lòng thầm nghĩ vậy là tốn sức vô ích, mất công chạy ô tô xa 3-4 trăm km mà đành về không.” Nhưng thật tình cờ, khi về trên con đường cao tốc nơi những chiếc xe đều phóng với tốc độ 150-170 km/giờ, một người quen đi ngược chiều, cũng chính là người bán lò cho ông Minh, đã nhận ra xe của ông và đánh xi nhan để hai bên dừng lại. Khi biết được nỗi thất vọng của ông, người bạn liền thuyết phục ông cùng quay lại nhà máy đó vào ngày hôm sau. “Khi chúng tôi quay lại thì người phụ trách hôm đó là người phó của vị quản lý hôm trước, và anh này vì không biết được ý đồ của tôi nên đã cho phép tôi đi lại tham quan tự do”. Nhờ cơ hội đó mà ông học hỏi được từ xưởng gốm đó những thông tin thiết yếu về bố trí thiết bị, hoàn toàn khớp với dây chuyền công nghệ mà Minh Long khi đó nhắm tới. 
 
Nhưng với những công nghệ cốt lõi bên trong – như về cấu trúc vật liệu hay những loại màu, men mới – là những điều không thể học lỏm được, thì ông bắt buộc phải đầu tư nghiên cứu, học hỏi qua sách vở và nhiều nguồn khác nhau. Trong quá trình đó, ông cũng nhận được những sự giúp đỡ hoàn toàn bất ngờ. Có những người bạn không làm nghề gốm, nhưng bỗng mang đến tặng cho ông những cuốn sách tư liệu hữu ích. Cũng chính là bạn bè đã giới thiệu về máy đo laze để ông nghiên cứu sử dụng thay thế cho cách đo cổ điển, từ khi loại thiết bị này còn rất mới và không mấy ai biết. “Khi mua máy đo laser, chúng tôi phải năn nỉ, thuyết minh rất nhiều họ mới tin là dùng cho sản xuất gốm sứ, và người bán máy bắt tôi cam kết không dùng vào mục đích quốc phòng”, ông Minh kể. 
 
Cũng có lúc sự may mắn của ông tình cờ đến mức lạ lùng, như lần ông tự mày mò chế được màu đỏ ô xít thiếc của Anh mà ông không thể tìm được trong sách vở vì nhà sản xuất giấu kín bí quyết. Đó là một lần làm việc cẩu thả, do nghiên cứu tìm tòi lâu ngày mà không ra nên ông mỏi mệt, lười không dọn dẹp phòng thí nghiệm. Tình cờ trong số các màu rơi vãi lẫn lộn chồng chéo vào nhau, ông linh cảm rằng một trong số đó chính là thứ màu ông hằng tìm kiếm, và linh tính của ông đã hoàn toàn đúng.
 
Ông Minh cho rằng yếu tố may mắn tình cờ là rất cần thiết trong mọi việc, kể cả trong công việc của những người làm khoa học và công nghệ. Nhưng điều quan trọng là làm sao nắm bắt được những cơ hội bất ngờ đó. “Người khác có thể cũng gặp tình huống tình cờ như tôi, nhưng điều khác biệt là tôi có linh tính để nắm bắt được”.

Vào sinh ra tử
 
Làm gốm tới mức đam mê như ông Lý Ngọc Minh thì cũng có cả những lần vào sinh ra tử. Ông kể cho chúng tôi về những chuyến đi lý thú nhưng cũng đầy bất trắc tới các mỏ đất, trong đó có hai lần suýt bỏ mạng khi một lần bị kẹt trong mưa rừng Phú Thọ giữa lúc chiều tối, và một lần đi đường 9 Nam Lào gặp đúng đoạn đèo bị sạt lở. Ông không chỉ tới các mỏ đất ở Việt Nam, mà lặn lội đến cả những mỏ đất lớn trên thế giới, tìm xuống những hầm mỏ đất sâu tới hàng trăm mét ở Trung Quốc, trong những chiếc lồng sắt không đèn đuốc mà mỗi lần đi xuống phải mất hàng 5-7 phút. “Vừa đi tôi vừa run, sợ rằng không may lồng bị đứt xuống thì biết làm sao”, ông vui vẻ kể lại.
 
Nhưng đối với ông, những chuyến đi đó chưa thể so được với ba lần “sinh tử”, khi ông cận kề cái chế trong gang tấc. Lần thứ nhất vào năm 1980, khi ông xây một hồ nước mấy trăm khối để lọc đất. Thời đó rất thiếu xi măng nên ông tiết kiệm, pha lẫn với vôi. Hậu quả là nước bị rò dưới chân. Chỉ giây lát sau khi ông xem xét chỗ rò và quyết định ngày hôm sau sẽ sửa lại, vừa bước đi được 5 m thì toàn bộ hồ đang đầy bị vỡ toang. “Nếu tôi ở gần hơn chắc chắn toàn bộ bức thành bể xây gạch dày 20 phân sẽ cuốn bay vào đầu”, ông kể. Lần thứ hai xảy ra khoảng một năm sau, vào thời kỳ Minh Long còn làm bộ trà phỏng theo hình trái măng cụt. Để ra màu măng cụt phải sử dụng men chảy, vì vậy phải dùng máy để mài những mẩu men rớt xuống chân đế sản phẩm. Thấy công nhân mài quá chậm ông đích thân thử làm nhằm tìm ra cách nhanh hơn hướng dẫn lại cho họ. Bánh đá mài thời đó phải dùng loại của Liên Xô, không được thẳng như của Nhật nên rất dễ bị rung. Khi ông vừa ngồi xuống thì nghe một tiếng nổ lớn như lựu đạn. Nhìn xuống tay thấy bình trà măng cụt vỡ nát, nhìn lên trên thấy một mảnh bánh đá mài bắn văng lên cắt đứt ngọt tấm mái tôn. Hai mảnh còn lại của chiếc bánh đá mài bay sát người của ông. Với tốc độ quay của bánh đá mài lên tới 2500 vòng/phút, nếu chúng văng vào người thì chắc chắn ông không thể tránh được và sẽ rất khó sống sót. Còn lần thứ ba xảy đến sau đó vài năm, khi ông ở trong phòng thí nghiệm mải mê nấu keo chế loại màu nhẹ lửa, đang tập trung cao độ nên sơ ý, để cho hai sợi dây điện âm – dương kẹp vào tay. “Tôi nghe như có tiếng pháo nổ và lửa đất trên đầu, miệng há ra mà không kêu được”, ông kể. Khi đó ông nghĩ thầm chắc chắn mình sẽ không thể thoát được, nhưng thật may mắn là sợi dây điện không đủ dài nên bị tuột ra theo cú ngã của ông. 
 
Ngoài những lần cận kề cái chết đó, còn không ít những lần biến cố xảy đến với xưởng gốm, như có lần phòng thí nghiệm của ông bùng cháy khắp nơi, khói bốc nghi ngút nhưng không hiểu sao lửa không bùng to và cuối cùng dập tắt được. Nhưng tất cả những hiểm nguy đó xảy ra không làm ông e ngại, chùn chân. Trái lại, “chúng xảy đến như để báo cho tôi biết rằng mình được phù trợ để làm được những việc lớn mà mình luôn theo đuổi”, ông nói.
 
Đắc nhân tâm
 
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm sứ - cả ông nội và cha đều theo nghiệp gốm – song chưa từng có ai đẩy được cơ nghiệp lên tới đỉnh cao như Lý Ngọc Minh, do ông không dễ dàng thỏa mãn với những gì làm được mà luôn đặt ra mục tiêu hướng tới cho doanh nghiệp, cả trước mắt và lâu dài. Trước mắt là tìm cách cải tiến sản xuất để có thể hạ thấp chi phí, tạo ra được mức giá đủ thấp giúp công ty trụ vững qua thời kỳ khó khăn chung về kinh tế, và hướng tới mục tiêu rút ngắn quy trình sản xuất để từ hòn đất ra tới sản phẩm chỉ mất 24 tiếng đồng hồ thay vì hàng tuần lễ như hiện nay. Xa hơn là tạo ra những sản phẩm mới có tính đột phá về kỹ thuật, không chỉ thuần túy phục vụ tiêu dùng mà sẽ có cả những sản phẩm phục vụ các ngành công nghiệp. “Chúng tôi sẽ tạo tiền đề để thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp kế tiếp thực hiện được bước phát triển này trong tương lai”, ông nói.
 
Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đề ra, theo ông Minh phải thực hiện tốt nguyên tắc quyền lợi người lao động gắn liền với quyền lợi của doanh nghiệp, đồng thời phải truyền được cảm hứng và nhiệt huyết từ người chủ doanh nghiệp tới mọi người lao động, hay nói cách khác là khả năng thu phục nhân tâm. “Quan hệ giữa tôi với công nhân vừa là chủ thợ, vừa là thầy trò, vừa là anh em”, ông nói. 
 
Khi cùng ông Minh đi tham quan nhà máy, chúng tôi thấy ông vừa giới thiệu từng chi tiết dây chuyền công nghệ, vừa liên tục dừng lại trao đổi công việc với mọi người ở mọi cấp bậc, từ thấp tới cao, với tâm thế ôn hòa, cẩn trọng, và hết sức giản dị. Trong ánh mắt những người nhân viên chúng tôi thấy sự tin tưởng và yên tâm thoải mái, hoàn toàn không có sự xa cách. Không chỉ những người công nhân, mà tất cả mọi người từng tiếp xúc với ông Minh đều tìm thấy ở ông sự bình dị nhưng không sơ sài, luôn chu đáo với mọi người. Và có lẽ đó là lý do nhiều người chỉ một lần tiếp xúc đã tìm cách giúp đỡ ông một cách hoàn toàn vô tư. Ông kể với chúng tôi rằng năm 1987, trong dịp đi Đức dự một hội chợ ở Leipzig, anh tham tán thương mại của sứ quán Việt Nam khi nghe ông nói chuyện, bày tỏ mong muốn được đi tham quan một nhà máy làm sứ cách điện, đã ngay lập tức đồng ý giúp đỡ. Ông còn nhớ rằng đêm hôm ấy hai người phải dậy từ 3 giờ sáng, ra đường giữa cái rét 0 độ C, và đi xe lửa mất 3 tiếng đồng hồ. Nhưng thật đáng tiếc sau đó hai người bị thất lạc liên lạc, và đây là điều mà đến bây giờ ông vẫn còn cảm thấy áy náy.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885. 

Cuộc cướp bóc

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Tô men rạn “lưỡng long tranh châu” thời Gia Long ảnh tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn - Giao Hưởng chụp …
 

Người ta trưng ra bằng chứng về một nhà truyền giáo người Pháp là Henri de Pirey, đã viết trên tạp chí B.A.V.H (Bulletin des amis du vieux Hué - 1914) rằng khi rút khỏi kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã chuyển kho báu của hoàng cung đến phía bắc. Kho báu này ước chừng 950 thùng, trong đó có 400 thùng đựng đầy vàng và 150 thùng đựng đầy bạc, số còn lại là các đồ quý giá nhất trong nước, nhưng vì chiến cuộc nên nhà vua chỉ mang theo được 100 thùng mà thôi. Không lâu sau, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, đày sang đảo Réunion, số vàng của vua chôn giấu nơi đâu? 
 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Điếu hút thuốc lào thời Gia Long, vẽ chim hạc và cành mai.

Nhiều người đặt câu hỏi như thế và lên đường tìm kiếm. Nhưng họ quên rằng hoặc không biết, trong suốt 3 tuần lễ sau ngày vua Hàm Nghi ra đi, phần lớn kho báu trong hoàng thành đã lọt vào tay người Pháp. Điều đó được ghi nhận qua tài liệu lưu trữ ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp tại Paris, với lời kể của linh mục Pène-Siefert, cho biết người Pháp đã lấy trong trại Cấm Vệ quân 113 lạng vàng, 742 lạng bạc, 2.627 quan tiền. Lấy tại cung bà thái hậu Từ Dũ 228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương và hạt trai, hạt ngọc; 271 vật dụng bằng vàng, 1.258 nén bạc, 3.416 lạng vàng. Họ cũng lấy hết vật phẩm của các tiên đế nhà Nguyễn dùng lúc sinh thời từ mũ miện, đai áo, triều phục, long sàng, đến các đỉnh trầm, khay chén... Tính ra “kho tàng trong hoàng cung đã mất đi ước chừng 24 triệu quan vàng và bạc”. 
 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Tô có nắp (tiềm quy giáp) vẽ mai rùa và rồng thời Minh Mạng.

Cuộc thất thoát kho báu của các vua triều Nguyễn kéo dài 2 tháng sau ngày kinh đô Huế bị thất thủ bởi người Pháp vào tháng 7.1885 đã gây tai tiếng hơn cả cuộc cướp phá lâu đài của hoàng đế nhà Thanh ở Bắc Kinh. Sau này vua Đồng Khánh nhiều lần đòi lại kho báu đã bị người Pháp lấy đi như biên bản ngày 21.3.1888 của Pháp đã ghi: “Trở lại chuyện đã bàn trước đây, hoàng thượng (vua Đồng Khánh) nhắc rằng các vật phẩm quý giá của hoàng gia bị thất thoát sau biến cố ngày 5.7 và chắc chắn hiện giờ đang nằm trên đất Pháp, giá trị nhất là chuỗi kim cương kết lại từ đời vua Gia Long cho tới đời vua Tự Đức, cùng một bảo kiếm nạm ngọc quý truyền lại từ đời vua Gia Long”. 
 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Bình hoa lớn vẽ mai rùa và rồng giỡn ngọc (long hí châu) thời Minh Mạng

Một trong những vật ấn tượng trong kho báu hoàng cung là con voi bằng vàng đúc rất tinh xảo, đã bị hai người Pháp có trọng trách tranh giành về riêng mình. Để rồi cuối cùng con voi vàng (kim tượng) là báu vật truyền đời kia bị chặt ra làm hai để chia cho hai đại diện thực dân Pháp mỗi người một nửa! Đó không phải là lời đồn của binh lính người Pháp hoặc quan chức người Việt, mà được ghi trong một báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ Paul Rheinart gửi Toàn quyền Đông Dương Richaud ngày 28.2.1889 kèm theo lời phàn nàn: "Điều buồn lòng song vẫn phải nhắc lại là thiếu tướng Prudhomme đã chiếm đoạt những vật phẩm quý báu một cách không do dự (...), và điều đáng tiếc nữa là không có ai đem trả lại phần nào trong những của cải vô giá mà họ đã tước đoạt trắng trợn”.

Các chi tiết trên phần lớn nằm trong tài liệu lưu trữ ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp - Paris (chưa xuất bản) được sưu tầm, trích dẫn, dịch thuật bởi Nguyễn Xuân Thọ, Nguyễn Ngọc Cư và do nhà nghiên cứu Phan Thuận An giới thiệu qua tài liệu về các bảo vật ở hoàng cung, đăng trong Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn do Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường Thừa Thiên-Huế kết hợp với Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế ấn hành (tháng 7.2002). 

Theo tài liệu trên, sau ngày vua Hàm Nghi đi đày, hoàng cung còn giữ lại nhiều bảo vật vô giá như những bửu tỷ bằng vàng khối có cái nặng đến 18 kg, ngọc điệp nhà Nguyễn, những chiếc độc bình lớn bằng men lam Huế (bluers de Hue), các tủ chạm cẩn xà cừ, các ché lớn thời Minh và các ché màu lục nhạt (céladon), các đĩa lớn đường kính 55 cm màu hồ thủy đẹp tuyệt vời... 

 

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Bình vôi thế kỷ 19.
 

Ngay cả những nhà sưu tập và nghiên cứu ngôn ngữ học nước ngoài như Paul Boudet - là chứng nhân thời ấy - đã cho biết rằng, lúc bấy giờ ở điện Càn Thành (điện Trung Hòa) “vẫn còn 26 quyển kim sách đúc bằng vàng chứa đựng các chi tiết được ghi lại về lễ đăng quang của các vua Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Đồng Khánh, Khải Định, những điều liên quan đến lễ tuyên phong cho các hoàng hậu và các hoàng thái tử” và 46 cái ấn bằng ngọc hoặc bằng vàng. Nay những bảo vật trên hầu như đã không còn và lưu lạc khỏi kinh thành Huế, thất tán khắp bốn phương trời...

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Đĩa vẽ chim công và hoa mẫu đơn, ký kiểu tại Anh thế kỷ 19.


Bức tranh của vị hoàng đế đi đày

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Đồ sứ do Bảo Đại đặt làm tại Pháp có thơ và minh họa theo truyện Kiều: “Khi gió gác khi trăng sân - Bầu tiên chuốc …

Tháng 11.2010, một tác phẩm hội họa của vua Hàm Nghi, lần đầu tiên được đem ra bán đấu giá tại Paris (Pháp). Bức sơn dầu Déclin du jour (Chiều tà) này có kích thước 35 x 46 cm, ghi là vẽ năm 1915. Lúc đó cựu hoàng ở Alger (Algérie), sống và sáng tác tranh tượng tại biệt thự Gia Long, khu El Biar. Theo quy định pháp luật, bảo vật quốc gia phải thể hiện là vật chứng của một sự kiện lớn, hoặc gắn bó với các anh hùng danh nhân, từ đó có thể nói bức tranh Déclin du jour của vua Hàm Nghi là một bảo vật. Cuộc bán đấu giá bảo vật ấy được Mathilde Tuyết Trân - một người Việt sinh sống ở nước ngoài - kể lại giá khởi đầu ấn định từ 800 - 1.200 euro. Chỉ trong vài phút giá tăng liên tục đến 4.500. Đến khi những người Việt Nam có mặt trong phòng đấu giá trả tới 5.000 euro, thì “bắt đầu có người cho giá qua điện thoại, họ thêm ngay 1.000 euro, đẩy giá tấm tranh lên 6.000 euro. Từ đó cuộc đấu giá “tay đôi” giữa hai người phụ nữ trong phòng và người đẩy giá qua điện thoại diễn ra”. Theo Mathilde Tuyết Trân, con số đã đẩy đến mức 8.800 euro cộng thêm 26% phụ phí đấu giá, thành mức tiền phải trả cuối cùng là 11.088 euro - gấp 8 lần giá ban đầu.  Điều đó đã “thể hiện tình cảm đối với một kỷ vật của vua Hàm Nghi (...) tình cảm những người có lòng với quê hương và quá khứ lịch sử”. 

 

Nguồn: Sưu tầm

 
Gốm Giang Cao làng nghề truyền thống Hà Nội.

Gốm Giang Cao làng nghề truyền thống Hà Nội.

Nhắc đến nghề gốm sứ truyền thống, người ta thường hay nghĩ đến gốm Bát Tràng. Hầu như không ai biết bên cạnh Bát Tràng còn có một làng gốm Giang Cao. Không có lịch sử lâu đời tới cả vài trăm năm như gốm Bát Tràng, song gốm Giang Cao lại có sức bật trẻ của một làng nghề 60 năm tuổi vừa được công nhận là làng nghề truyền thống Hà Nội.
 
Xã Bát Tràng gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao, trước năm 1945 là hai xã riêng biệt. Giang Cao trước đây có tên gọi là làng Đông Sáng, sau đổi thành Đông Ca và đến thời nhà Nguyễn trước đời vua Ưng Xụy, niên hiệu Đồng Khánh được đổi thành Giang Cao. So với lịch sử của làng gốm Kim Lan (800 năm) và làng Bát Tràng (700 năm), làng gốm Giang Cao tuổi nghề còn khá trẻ (khoảng hơn 60 năm). 
 
Thấp tuổi làng trẻ tuổi nghề 
 
Sau gần một giờ xe chạy, trước mắt chúng tôi không phải là cảnh làng quê với những mái ngói đỏ tươi, ruộng đồng thẳng cánh cò bay mà là một làng nghề thịnh vượng với những dãy nhà cao tầng nối tiếp nhau, liền kề xưởng gốm. Sản phẩm gốm đủ chủng loại, màu sắc, kích cỡ được bày biện rất nghệ thuật, khách du lịch ra vào tấp nập.
 
Tiếp chúng tôi bên bình trà chính hiệu gốm Giang Cao, ông Lê Văn Cam, nghệ nhân của làng trầm ngâm: “Sau năm 1989 cả xã Bát Tràng trở thành một trung tâm gốm lớn. Ngày xưa, người dân Giang Cao không mở xưởng gốm mà chỉ đi làm thuê cho bên Bát Tràng. Đến thời Pháp thuộc, có ông Phán Sồ, đã đỗ tú tài, mở một xưởng gốm có tên là Ngọc Quang. Đó là xưởng gốm đầu tiên của làng Giang Cao. 
 
Từ xưởng gốm đầu tiên ấy, con cháu Giang Cao bắt đầu xây dựng những xưởng gốm của riêng mình. Đến nay, nghề gốm đã trở thành nghề truyền thống của cả làng”. Giang Cao có khoảng trên 900 hộ dân, thì toàn bộ làm gốm, trong đó có 41 công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân; còn lại số ít làm dịch vụ. So với Bát Tràng 700 năm tuổi, gốm Giang Cao ít được du khách biết đến hơn, số nghệ nhân đã được công nhận cũng ít hơn. 
 
Bù lại, Giang Cao có nhiều điều kiện thuận lợi như: đất đai còn rộng để phát triển, số nghệ nhân, số hộ, số doanh nghiệp đông hơn. Sự năng động, sáng tạo và sức bật của làng nghề trẻ đã giúp Giang Cao ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường. 
 
Theo ông Đào Xuân Hùng, Bí thư Đảng ủy -Chủ tịch UBND xã Bát Tràng, tổng thu nhập của cả xã Bát Tràng vào khoảng 2-3 triệu USD/ năm, thu nhập  cả xã lên tới 8 triệu USD/ năm, trong đó, Giang Cao chiếm xấp xỉ 50%, bình quân thu nhập của người dân là 28,5 triệu đồng/năm.
 
Người dân làng gốm cho biết, để có những sản phẩm chất lượng, đất sét phải mua từ làng Cổ Điền bên Vĩnh Phúc, hoặc mua từ làng Dâu bên Bắc Ninh. Đó là đất sét trắng, còn đất sét đỏ phải mua từ tận Hải Dương hay Thổ Hà - Bắc Ninh. Làng gốm có câu truyền miệng: “Nhất dáng, nhì men, rồi đến khắc, vẽ”. 
 
Gốm nơi đây từ xưa đã nổi tiếng về chất men phủ, phổ biến là men màu búp dong. Loại men này có độ trắng hơi ngả xanh hoặc xám, trong và sâu. 
 
Cũng theo ông Cam, thời xưa còn có loại men là men lý, men nho, màu gần như màu ngọc thạch nên được gọi là men ngọc, nhưng đã bị thất truyền từ lâu. Ngoài ra còn có các loại men rạn, men cát, men chảy, men kính, men co, men giả đá. Mỗi loại đều có những nét độc đáo riêng mà chỉ có người sành gốm mới có thể thẩm định được. 
 
Hiện nay, ở làng Giang Cao, hầu hết các lò gốm đã không còn dùng than, củi hay rơm rạ để đốt lò mà dùng lò công nghiệp bằng ga nên hạn chế được sự ô nhiễm môi trường, đồng thời cũng giảm được lượng phế phẩm. 
 
Có chỗ trên thị trường, vươn ra nước ngoài
 
Cùng với gốm Chu Đậu, Phù Lãng, Bàu Trúc, gốm Giang Cao đã được chọn để vinh danh cho gốm sứ truyền thống Việt Nam. Sản phẩm gạch hoa, ngói gốm, ngói sành của các công ty như Quang Minh, Thanh Hải cũng được dùng trong công trình phục hồi di tích Hoàng thành Thăng Long, cố đô Huế. 
 
Riêng trong năm 2012, làng đón tiếp tổng cộng 595 đoàn với trên 10.000 lượt khách quốc tế và hàng chục nghìn khách trong nước về thăm quan du lịch, ký kết hợp đồng kinh tế, mua hàng gốm sứ. Khách du lịch, nhất là khách nước ngoài thường ưa thích các sản phẩm men rạn hay hoa văn, hình dáng mang hơi hướng cổ điển.
 
Vươn ra khỏi thị trường trong nước, gốm Giang Cao hiện đã có mặt ở rất nhiều nơi trên thế giới. Thị trường gốm sứ Giang Cao không chỉ dừng lại ở các nước châu á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan mà còn sang cả Mỹ, úc và các nước EU. 
 
Nhiều sản phẩm gốm cổ của xã Bát Tràng đang được lưu giữ tại các viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện bảo tàng Royaux -Vương quốc Bỉ, Viện bảo tàng Guimet - Pháp là những nhịp cầu nối giúp thế giới biết nhiều hơn đến gốm Bát Tràng nói chung và Gốm Giang Cao nói riêng. Mỗi năm, có hàng triệu sản phẩm được đem ra thế giới, thu nhập từ xuất khẩu chiếm khoảng 30% tổng thu nhập của cả làng. 
 
Có những doanh nghiệp Hàn Quốc còn mang mẫu mã sang tận nơi để đặt hàng sản phẩm. Bảo tồn và phát triển là câu chuyện chung của tất cả các làng nghề truyền thống ở Việt Nam, không chỉ riêng với gốm Giang Cao, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng xâm nhập sâu tới các ngõ xóm, đường làng như hiện nay. 
 
Dạo quanh một loạt phòng trưng bày, giới thiệu sản phẩm, chúng tôi nhận thấy các mặt hàng đa phần không đề xuất xứ, hãng sản xuất. Đây là điều kiện thuận lợi cho hàng giả trà trộn.
 
Theo ông Đào Xuân Hùng, có một số hộ kinh doanh cá thể đưa thêm hàng Trung Quốc vào bán cùng, tuy không nhiều nhưng điều đó chắc chắn làm ảnh hưởng tới uy tín chất lượng, thương hiệu của làng. Bên cạnh việc tuyên truyền tới người dân, chính quyền xã cũng đã trình lên huyện việc đề nghị Sở Công Thương cấp tem bảo hộ và quy chế sử dụng tem để tránh hàng giả hàng nhái trà trộn vào sản phẩm Giang Cao, làm mọi cách giữ thương hiệu cho làng nghề.
 
Liên kết để bảo tồn, phát triển
 
Ở Giang Cao, hình thức đào tạo, truyền thụ nghề vẫn còn mang tính cá nhân, nhỏ lẻ. Xây dựng một trung tâm đào tạo nghề quy mô lớn do Hội gốm sứ trực tiếp đào tạo là mục tiêu trong tương lai gần của xã nhằm phổ biến kiến thức, nâng cao năng lực và thu hút người trẻ đến với nghề truyền thống. Hội gốm sứ cũng khuyến khích con em theo học các ngành nghề kỹ thuật, mỹ thuật... về phát triển tại địa phương.
 
Từ năm 2002, các nghệ nhân ở Giang Cao đã bắt đầu liên kết để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thông qua Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng. Những thành viên của hiệp hội không chỉ là những gia đình sản xuất gốm mà còn có cả các công ty kinh doanh gốm sứ. 
 
Thông qua hiệp hội, người dân có cơ hội tìm hiểu, nắm bắt thông tin về thị trường, các kiến thức mới trong công nghệ sản xuất gốm sứ, phương thức buôn bán thời thương mại điện tử và cách nâng cao năng lực cạnh tranh. 
 
Ông Hùng cũng cho biết thêm: bên cạnh chợ gốm làng cổ Bát Tràng khai trương tháng 11/2003, xã cũng đang tiếp tục xúc tiến các dự án xây dựng chợ chiều Giang Cao, cảng du lịch Bát Tràng giai đoạn hai, xây dựng bảo tàng gốm sứ, chợ kết hợp trưng bày và giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống gốm sứ Giang Cao. 
 
Mới đây, Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng đã thành lập Trung tâm xúc tiến xuất khẩu Bát Tràng, phối hợp với thành phố Hà Nội tổ chức lễ ra mắt Câu lạc bộ nghệ nhân làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng và tiến hành xây dựng thương hiệu “Bát Tràng Việt Nam - 1000 năm truyền thống”. 
 
Đi sâu vào trong làng, tôi bắt gặp nhiều hơn các xưởng gốm quy mô lớn có, vừa vừa có. Nhìn các nghệ nhân ngồi say sưa bên bàn xoay với thỏi đất chưa rõ hình hài, thật không thể không khâm phục những trí óc sáng tạo, những bàn tay tài hoa, điêu luyện ấy. Trong mỗi tác phẩm nghệ thuật đã được hoàn thành, tôi như nhìn thấy cả sự cần mẫn, tài năng và có lẽ là cả tâm hồn của người nghệ sỹ, tâm hồn người Việt, hồn dân tộc.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Cùng với gốm Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu... nổi tiếng của khu vực phía Bắc, làng gốm Trù Sơn (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) là một trong những “cái nôi” về gốm nổi tiếng ở khu vực Bắc Trung bộ. Nhưng hiện nay, gốm Trù Sơn đang đứng trước nguy cơ mai một, vì không tìm được đầu ra, chưa được sự quan tâm và đầu tư thích đáng...
 
Ở Trù Sơn hiện nay, những phụ nữ tầm tuổi sinh khoảng 1954 - 1970 vừa là “bà chủ” vừa là thợ chính, còn những phụ nữ sinh trước 1954 do điều kiện và sức khỏe nên đi làm giúp và truyền lại nghề. Gọi là truyền nghề, nhưng thực chất là truyền cho những người đã... biết rồi, còn lứa tuổi sinh từ sau năm 1970 không mấy ai tập làm nghề này nữa, thế hệ trẻ sau này càng không có người.
 
Chúng tôi vào xóm 11, chỉ thấy chị Nguyễn Thị Hồng lủi thủi ngồi “vắt” đất nặn nồi một mình. để có được sản phẩm gốm, chồng chị Hồng phải sang xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) đào đất sét chở về, sau đó phải đạp đất cho nhuyễn, lọc sạn, cắt... “vắt” rồi nặn. Sau công đoạn nặn là đem phơi nắng cho khô và cuối cùng bỏ lò nung 4 - 5 giờ, tùy theo sản phẩm có được nắng hay không. Đó là chưa kể công đem đi “rao khắp nơi” bán hàng.
 
Chị Hồng tâm sự rằng làm nghề này “ức” nhất là phơi sản phẩm gặp trời mưa. Có bữa đang ăn cơm, mưa bất ngờ đổ xuống, chạy ra “cứu” được “hắn”, quay vô nhà thì bữa cơm đã bị chó, mèo “ăn tan”. Cực vậy, nhưng sản phẩm làm ra, cũng chỉ được từ 4.000 đồng/cái cho đến tầm 10.000 đồng, 25.000 đồng/cái... (bán tại chỗ). Nếu muốn bán được giá thì phải chở vào TP Vinh, Hà Tĩnh, ra Thanh Hóa, Ninh Bình... 
 
Về Trù Sơn hôm nay, nếu không được biết trước sẽ khó có thể nhận ra nơi đây có một làng nghề làm đồ gốm. Các dấu tích của làng nghề đã bị che khuất bởi nhà cửa, tường rào... Anh Nguyễn Hữu Lịch, Phó Chủ tịch UBND xã Trù Sơn cho biết, trước đây, việc làm nghề gần như quanh năm, rộ lên vào 3 tháng áp tết. Nhưng sau này, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cơ chế thị trường, nghề không còn hợp với lớp người trẻ, vốn ít, thu nhập từ nghề thấp... nên nghề chỉ còn chủ yếu ở xóm 10 và 11 với khoảng 40 hộ làm thường xuyên.
 
Theo đánh giá, trong khi gốm Hải Dương đa dạng, hình thức đẹp, được tráng men... thì gốm Trù Sơn còn đơn giản, làm bằng phương pháp thủ công, không tráng men, chỉ có màu đất. Nhưng có lẽ, chính vì “chỉ có màu đất” nên gốm Trù Sơn có nét đặc trưng riêng. Đất làm gốm được lấy chủ yếu từ xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc), hoặc xa hơn nữa tận xã Sơn Thành (huyện Yên Thành). Đây là loại đất sét mịn, khá “trong”, ít cợn... Thông thường, khi được đào sâu xuống tầm 1m thì mới có loại đất cần tìm, đó là đất sét trắng.
 
Nhưng điều đặc biệt là từ màu trắng này, sau khi được nung lên qua lửa đỏ thì sẽ cho ra màu đỏ - hồng như màu bình minh rất đẹp. “Người ta thì “cô” vàng, còn người quê tui “cô” mồ hôi” - anh Lịch ví von. Chính vì nghề “bạc” nên hiện không mấy ai muốn theo nghề. Nhiều nhiệm kỳ xã đã đưa vấn đề phát triển làng nghề vào nghị quyết, nhưng đến nay vẫn chưa đâu vào đâu. 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Các di vật, cổ vật được trưng bày gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... từ đầu Công nguyên đến các triều đại Lý, Trần, Lê.
 
Ngày 16/2, tại Bảo tàng tỉnh Nam Định, Hội cổ vật Thiên Trường phối hợp với Câu lạc bộ UNESCO nghiên cứu, sưu tầm cổ vật Việt Nam đã tổ chức trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật mừng Xuân Quý Tỵ 2013.
 
Các di vật, cổ vật được trưng bày lần này chủ yếu gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... có niên đại từ đầu Công nguyên đến các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê. Đây là một trong các hoạt động mở đầu cho Năm du lịch Quốc gia đồng bằng sông Hồng gắn liền với phiên chợ Viềng xuân của tỉnh Nam Định; đồng thời cũng là dịp để những người yêu thích, đam mê và muốn tìm hiểu về các di vật, cổ vật trên cả nước có điều kiện được tìm hiểu, giao lưu, trao đổi kiến thức.
 
Nhân dịp này, Hội cổ vật Thiên Trường hiến tặng cho Bảo tàng tỉnh Nam Định hai bức sắc phong thời Nguyễn và bốn cổ vật gốm thời Lý, Trần. Trưng bày cổ vật đầu năm là một trong những hoạt động thường niên của Hội cổ vật Thiên Trường nhằm suy tầm, quảng bá, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc./.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
 
Bạn đang xem:Tranh gốm Bát Tràng: Cảnh Thiếu nữ gội đầu - Gốm sứ nội thất Tranh gốm Bát Tràng: Cảnh Thiếu nữ gội đầu - Gốm sứ nội thất
9.4/10 -  4 bình chọn
Trang chủ
Gốm sứ nội thất
Tranh ốp tường, trang trí

Cơ sở sản xuất Nội Thất Thời Nay

Hotline: 0979 892 690
Email: sales.noithatthoinay@gmail.com

Địa chỉ Cơ sở 1:   Số 14, ngõ 59, phố Nam Dư, Lĩnh Nam, Hà Nội

              Cơ sở 2:   Số 4, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội

Copyright © 2012. Thiết kế bởi noithatthoinay.com

LiveZilla Live Help
Text Link:YH:dungnt_23121988 : ||| sửa chữa cửa cuốn , sửa cửa cuốn , máy sấy tay , máy sấy tay Panasonic , máy đánh giầy , máy đánh giầy Shiny , máy đánh giầy Silroad , xe đẩy hàng , xe đẩy hàng Phong Thạch , xe đẩy hàng Prestar Japan ,