Logo
 
Hotline: 0934 231 288
Banner Sub 1
KHÔNG GIAN NỘI THẤT GỐM SỨ
Mr. Dũng Kinh doanh: Mr. Dũng Mr. Dũng Kỹ thuật: Mr. Dũng

Sưu tập gốm cổ Việt Nam

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885.

Xem tiếp
Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Giới sưu tầm cổ vật và những ai quan tâm cổ ngoạn, đều từng nghe qua bộ sưu tập Dương - Hà. Nhưng phải đến khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM...

Xem tiếp
Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Các di vật, cổ vật được trưng bày gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... từ đầu Công nguyên đến các triều đại Lý, Trần, Lê.

Xem tiếp
Trang

Bài viết tiêu điểm

Chiếc bát sứ quý hiếm thời Khang Hy

Chiếc bát sứ quý hiếm thời Khang Hy

Một chiếc bát sứ đỏ họa tiết hoa sen quý hiếm có từ đời vua Khang Hy- Trung Quốc, giai đoạn 1662-1722 vừa được bán với mức giá kinh ngạc 9.1 triệu đô la Mỹ ( tương đương gần 190 tỷ đồng) trong một cuộc mua bán tại Hồng Kông.
 
Với mức giá 74 triệu đô la Hồng Kông (tương đương 9.1 triệu đô la Mỹ) đây được coi như một kỷ lục thế giới mới đối với các sản phẩm sứ Trung Quốc đời vua Khang Hy (thuộc triều đại Nhà Thanh) sau khi được một công ty tại Hồng Kông mua lại từ tổ chức đấu giá Sotheby.
 
Chiếc bát chạm khảm tráng men được trang trí với màu hồng, vàng và màu xanh của lá sen đã gây chú ý lập tức tại buổi đấu giá. Chiếc bát ban đầu được dự kiến sẽ đạt mức giá 70 triệu đô la Hồng Kông, nhưng đã đạt được mứa giá 74 triệu đô la Hồng Kông.
 
Người bán đấu giá cho biết, chiếc bát đã phá vỡ kỷ lục được lập hồi năm 2006 bởi một sản phẩm sứ thời Khang Hy khác. Đó là một chiếc bình “Rồng” màu trắng xanh được bán với mức giá 22.52 triệu đô la Hồng Kông.
 
Hồng Kông nổi lên là một trong những trung tâm đấu giá lớn trên thế giới về các tác phẩm nghệ thuật. Điều này được cho là nhờ các đại gia mới nổi tại đại lục, những người có rất nhiều tiền và bắt đầu có sở thích về các loại đồ cổ xa xỉ.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà

Đây không phải là lựa chọn số một về sự sắp đặt trưng bày sưu tập ấm trà , tuy nhiên kệ gổ thiết kế thích hợp sẻ tôn lên giá trị vật trưng bày và thu hút khách thưởng ngoạn. Kiểu thức trang trí này dường như phù hợp với nội thất phương Đông.
 
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Gốm sứ vẫn là mặt hàng xuất khẩu trong năm 2013

Gốm sứ vẫn là mặt hàng xuất khẩu trong năm 2013

Đó là chia sẻ của ông Lê Bá Ngọc, Tổng thư ký Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam về mặt hàng xuất khẩu trọng điểm của ngành trong năm 2013.
 
Ông Ngọc cũng cho biết, năm 2012 là năm ghi dấu những nỗ lực vượt bậc của các DN trong ngành. Với đặc thù là ngành xuất khẩu tới 90% sản phẩm, trong khi tình hình tại các thị trường nhập khẩu chính của ngành không hề khả quan, nhưng năm vừa qua, ngành thủ công mỹ nghệ vẫn đạt mức tăng trưởng 10% so với năm 2011, đạt 1,6 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu.
 
Gốm sứ và mây, tre, cói, thảm là hai nhóm hàng đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ trong năm qua. Theo đó, mặt hàng gốm sứ giữ vị trí số 1 khi đạt 431 triệu USD kim ngạch, tăng 12% so với cùng kỳ. Mặt hàng mây, tre, cói, thảm đứng ở vị trí thứ 2 với 211 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 10,5% so với cùng kỳ.
 
Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu sản phẩm gốm sứ lớn nhất của Việt Nam khi chiếm trên 16% tỷ trọng, đạt khoảng 65 triệu USD. Đài Loan là thị trường lớn thứ 2 với 13% tỷ trọng, đạt khoảng 51 triệu USD. Tiếp đến là một số thị trường như: Mỹ, Malaysia, Đức, Thái Lan, Hàn Quốc…
 
Theo ông Lê Bá Ngọc, không chỉ năm 2012 mặt hàng gốm sứ mới là điểm nhấn về kim ngạch xuất khẩu của ngành mà đây là truyền thống, là thế mạnh của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam khi gốm sứ luôn chiếm khoảng 40% tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của cả nước. Và “đây sẽ tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam trong năm 2013”, ông Lê Bá Ngọc khẳng định. Trong nhóm hàng gốm sứ xuất khẩu thì hàng gốm mỏng và gốm trang trí sân vườn của Việt Nam được các thị trường lớn như: Đài Loan, Mỹ, EU, Thụy Điển, Nga và đặc biệt là thị trường Nhật Bản ưa chuộng.
 
Bà Hà Thị Vinh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh (Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội) cho biết: Với đặc thù mỏng, nhẹ, kích thước nhỏ gọn, gốm mỏng luôn là lựa chọn hàng đầu của các nhà nhập khẩu, nhất là các nhà nhập khẩu đến từ Nhật Bản. Bản thân Quang Vinh không thiếu đơn hàng gốm mỏng. Ngay từ thời điểm cuối quý III của năm 2012, Quang Vinh đã nhận được các đơn đặt hàng cho hết quý II/2013. Mặc dù số lượng của mỗi đơn hàng không lớn nhưng trong bối cảnh chồng chất khó khăn từ phía các thị trường nhập khẩu thì đây thực sự là điều rất đáng mừng.
 
Tuy nhiên, Bà Vinh cũng khá lo lắng bởi cho dù ở thời điểm hiện tại dòng gốm mỏng đang chiếm ưu thế nhưng áp lực về mẫu mã, về giá cả… cũng đang là trở ngại lớn không chỉ cho Quang Vinh mà còn là khó khăn chung của các DN ngành gốm.
 
Giải thích rõ hơn về điều này, ông Lê Bá Ngọc cho biết, do mặt hàng gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam thuộc dòng sản phẩm trang trí, mà đã là sản phẩm trang trí thì vòng đời rất ngắn, nên đòi hỏi phải thường xuyên thay đổi mẫu mã. Trong khi đó, năng lực thiết kế mẫu mã của chúng ta còn rất hạn chế. Ngoài ra, tuy sản phẩm gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam độc đáo, mang tính nghệ thuật cao nhưng thường là đơn chiếc, lại sản xuất thủ công nên khả năng đáp ứng được đơn hàng lớn là rất khó.
 
Để khắc phục được những nhược điểm này, theo ông Ngọc, nhất thiết các DN trong ngành phải đầu tư thích đáng cho công nghệ sản xuất, cho khâu thiết kế, hạn chế dần sự phụ thuộc vào mẫu mã của nhà nhập khẩu. Đặc biệt, các DN cần phải nghiên cứu thị trường, cập nhật những quy định, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, nắm bắt xu hướng tiêu dùng… Có như thế mới tạo được tính “thời sự” cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm sứ xuất khẩu Việt Nam.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Lò gốm cổ Đại Hưng

Lò gốm cổ Đại Hưng

Lò lu Đại Hưng nằm ở ấp 1, xã Tương Bình Hiệp, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm thành phố Thủ Dầu Một khoảng 3km về phía bắc. Cái tên “Lò lu” xuất phát từ lò gốm chuyên sản xuất các loại lu, khạp, hũ... dùng cho sản xuất nông ngư nghiệp và đời sống từ xa xưa. Lò lu Đại Hưng là lò gốm cổ nhất đất Bình Dương, hiện vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công truyền thống, với sản phẩm nghề đặc trưng truyền thống.

Lò lu Đại Hưng có lịch sử trên 150 năm; người chủ sáng lập đầu tiên là một người Hoa vào khoảng thế kỷ 17-18. Lò lu Đại Hưng đã trải qua nhiều thăng trầm, với nhiều đời chủ. Có những quãng thời gian khó khăn lò lu Đại Hưng tưởng như phải đóng cửa ngừng sản xuất.

Lò lu Đại Hưng là cơ sở sản xuất gốm thủ công lớn nhất Bình Dương với diện tích gần 11.000m2.

Cơ sở cũng đã từng suýt bị giải thể vì bị cho rằng gây ô nhiễm môi trường; nhưng may mắn đã được giữ lại với quan điểm bảo tồn nghề truyền thống. Tháng 10/2006, lò lu Đại Hưng đã được UBND tỉnh Bình Dương xếp hạng di tích cấp tỉnh. Người có công giữ được lò lu Đại Hưng và bảo tồn, phát triển nghề là ông Bùi Văn Giang (Tám Giang), người chủ thứ 5, tới nay đã có 25 năm gắn bó, quản lý cơ sở gốm truyền thống này.

Sản phẩm của Đại Hưng là những chủ yếu là sản phẩm gốm gia dụng, thiết thực cho đời sống của những người làm nông – ngư nghiệp, là các loại lu, khạp, hũ... với nhiều kích cỡ; không sản xuất hàng gốm mỹ nghệ. Mỗi ngày trung bình lò xuất xưởng khoảng 300 sản phẩm các loại, tiêu thụ nhiều ở các tỉnh miền Tây và cả Campuchia, Thái Lan, vận chuyển theo đường giao thông thuỷ.

Trải qua thời gian cùng những thăng trầm lịch sử, và những thay đổi của đời sống, xã hội; lò lu Đại Hưng vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công truyền thống như xưa, không sử dụng máy móc (trừ khâu làm đất); trong khi các cơ sở gốm khác ở Bình Dương đã thay đổi, cơ giới hoá nhiều. Đây là quan điểm bảo tồn của ông chủ Tám Giang cũng như Sở Văn hoá - Thể thao – Du lịch tỉnh Bình Dương.

Nghề gốm là một nghề truyền thống đặc biệt, nổi tiếng của đất Bình Dương. Lò lu cổ Đại Hưng là một đại diện tiêu biểu, niềm tự hào; thể hiện bản sắc của miền đất này; và cũng để lại dấu tích quan trọng trên con đường phát triển nghề truyền thống ở vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương. Trong dân gian vẫn lưu truyền câu ca dao:

"Ai về chợ Thủ bán hũ, bán ve

Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu"./.

 

Nguồn: Sưu tầm

 
Lòng mê nghề của ông chủ gốm sứ Minh Long

Lòng mê nghề của ông chủ gốm sứ Minh Long

Trong số nhiều tấm gương khởi nghiệp thành công, có người làm nên nhờ táo bạo trong kinh doanh, có người lại nhờ sự đam mê nghiên cứu đổi mới công nghệ. Lý Ngọc Minh tiêu biểu cho cả hai hình mẫu, và điều đáng nói là ông chưa từng qua trường lớp chính quy nào.
 
Khó có thể hình dung được những sản phẩm gốm sứ chất lượng cao nổi tiếng với doanh thu hàng nghìn tỷ đồng, đã chinh phục được nhiều thị trường trên thế giới, với một số tính năng vượt trội hơn cả sản phẩm của những hãng gốm sứ quốc tế danh tiếng hàng đầu, lại là kết quả của một quá trình mày mò tự nghiên cứu của một người chủ chưa từng qua đào tạo chính quy về gốm, và trình độ học vấn chưa qua lớp 4 trường làng. Ông hóm hỉnh gọi nhà máy của mình là trường học đại, vì “nơi đây toàn những người xuất phát không hiểu biết gì về công nghệ gốm sứ, cũng không qua trường lớp đào tạo chính quy về nghề này”.
 
Quyết tâm làm chủ công nghệ
 
“Tôi mê nghề chứ không quá ham chuyện kiếm tiền. Chính sự mê nghề đã tạo cho tôi bản lĩnh và sự bạo dạn, và cho phép mình đầu tư những khoản đầu tư lớn, dù có thể không đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn nhưng đem lại thành tựu kỹ thuật. Đối với tôi, thành tựu kỹ thuật quan trọng hơn thành tựu kinh tế”. 
    
Với xuất phát điểm từ chỗ thiếu cả kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức chuyên môn, ông Lý Ngọc Minh và những cộng sự của mình đã phải tự mày mò tìm hiểu, nghiên cứu, và học hỏi liên tục. Chính nhờ quá trình học hỏi liên tục mà hoạt động và kỹ thuật sản xuất của công ty không ngừng được cải tiến, nhiều công nghệ và thiết bị được công ty áp dụng và sửa đổi lại vừa phù hợp với ý muốn của mình, vừa giảm bớt sự phụ thuộc vào nước ngoài. 
 
Ví dụ như loại bột tạo phôi mà ở nước ngoài các công ty gốm sứ phải lấy nguồn cung cấp từ các nhà sản xuất chuyên trách, trong đó đòi hỏi máy móc hiện đại và kỹ thuật rất cao, nhưng Minh Long hoàn toàn tự chủ động sản xuất lấy. “Nếu nhập của nước ngoài thì thời gian chậm quá, không kịp phục vụ sản xuất, và mỗi khi cần thay đổi một loại đất nào đó thì lại gặp khó khăn. Mặc dù tự sản xuất thì cũng khá vất vả nhưng chi phí vẫn rẻ hơn, giúp tiết kiệm 30 - 50% so với nhập của nước ngoài”, ông Minh giải thích. 
 
Một ví dụ khác là các loại khuôn đặc chủng mà trước đây Minh Long bắt buộc phải nhập khẩu từ nước ngoài và gặp hạn chế là mỗi nhà máy của họ chỉ sản xuất được 100-200 chủng loại khuôn, trong khi Minh Long phải sản xuất tới cả nghìn chủng loại khác nhau nhằm đáp ứng đặc thù văn hóa người tiêu dùng của Việt Nam vốn luôn đòi hỏi sự phong phú về kiểu dáng, mẫu mã. Vì vậy, sau gần 10 năm từ học hỏi cách bố trí máy móc, thiết bị, phần mềm, huấn luyện tạo đội ngũ người làm, và liên tục cải tiến, Minh Long đã tạo ra được một quy trình sản xuất khuôn suôn sẻ, với giá thành chỉ bằng một phần tư giá nhập khẩu.   
 
Phần lớn các đổi mới công nghệ tại Minh Long chủ yếu do ban giám đốc nghiên cứu, khảo sát, từ đó đề ra những ý tưởng đổi mới, và tự tìm cách xử lý các vướng mắc”, ông Minh lý giải. Chẳng hạn như với công nghệ men chống bám dính, khi nghe nói trên thế giới có công nghệ men giúp gốm sứ không bám bẩn dầu mỡ, ông Lý Ngọc Minh và ban giám đốc đã tự tìm hiểu về nguyên lý chế ra men đạt tới kích thước nano để có độ bóng và chống bám dính như mong muốn, rồi cũng tự họ nghiên cứu tìm mua máy móc về sản xuất lấy. Những máy móc này, cũng như đa số các thiết bị nhập khẩu khác từ nước ngoài, khi nhập về Minh Long luôn tìm cách học cách tự cài đặt sử dụng để khi không có chuyên gia nước ngoài thì công ty vẫn có thể tự chủ được. “Kể cả khi một số linh kiện hư hỏng chúng tôi cũng tự chế tạo được để có thể sử dụng tạm thời khi chưa có linh kiện nhập thay thế”, ông Minh tự tin khẳng định. 
 
Màu và men: làm được điều thế giới chưa làm được
 
Từ khi mới xuất hiện, gốm sứ Minh Long đã nổi tiếng vì độ trắng bóng, và trong thời gian liên tục mười mấy năm những phẩm chất này vẫn liên tục được cải tiến nâng cao. “Tới nay, độ trắng bóng của gốm sứ Minh Long gần như đạt tới tuyệt đối”, ông Minh khẳng định. Theo ông, trong số hàng nghìn hãng gốm sứ trên thế giới, chỉ có khoảng năm hãng có chất lượng tương đương với Minh Long về độ trắng, độ bóng, độ cứng, và không có hãng nào, dù là của Đức, Pháp, hay Nhật, hơn được sản phẩm của Minh Long về các tiêu chí này. 
 
Bên cạnh đó, tất cả những hãng gốm nổi tiếng về kỹ thuật vẽ gốm bằng tay – như hãng Meissen của Đức và Herend của Hungary nổi tiếng về vẽ tay trên bình hoa, hay hãng Royal Copenhagen của Đan Mạch đứng đầu về vẽ tay trên chén, đĩa – đều phải dùng công nghệ truyền thống là nung sản phẩm ở nhiệt độ 800 – 850 độ C, trong khi công nghệ gốm vẽ tay của Minh Long cho phép nung sản phẩm tới nhiệt độ 1230 – 1250 độ C. Ông Minh khẳng định rằng sự vượt trội này về công nghệ khiến sản phẩm vẽ tay của Minh Long đứng xa thấy đẹp, lại gần thì mịn màng, sờ vào thấy mát, còn sản phẩm vẽ tay của nước ngoài có thể đứng xa thấy đẹp nhưng lại gần thấy màu men bị đục, sờ vào thấy cộm. Nhìn vào những sản phẩm này của nước ngoài không thể thấy chiều sâu của họa tiết, trong khi nhìn vào họa tiết của Minh Long dưới lớp men được nung ở nhiệt độ cao đem lại hiệu ứng ba chiều và độ sâu, tạo cảm giác sinh động hơn. 
 
Đồng thời, trên thế giới cũng chưa có hãng gốm nào có được một số màu sắc đặc biệt như sản phẩm của Minh Long khi nung ở nhiệt độ cao, ví dụ như màu đỏ sậm, hay màu xanh dương – để trong phòng thì là màu xanh thẫm, khi mang ra ngoài sáng thành tươi màu thiên thanh – mà ông Minh gọi là màu king blue. Với nhiệt độ nung tối đa là 850 độ C mà công nghệ chung của thế giới hiện nay đang áp dụng, khi sản phẩm tiếp xúc lâu với mưa, nắng, hoặc gặp môi trường khắc nghiệt như kiềm, mặn, hay chua (tiếp xúc với chanh, dấm) thì men có thể sẽ bị bong tróc hoặc phai mờ. Ngoài vấn đề về thẩm mỹ, điều này còn gây nguy hại cho người sử dụng, vì men chính là lớp bảo vệ ngăn chất độc – thông thường các sản phẩm màu đẹp, như các màu đỏ, vàng chanh, hay vàng cam, thì đều có cadmidium, hoặc một số sản phẩm gốm sứ của Trung Quốc dùng màu pha chì cũng rất độc hại nếu bị hỏng lớp men bảo vệ. Nhưng với sản phẩm của Minh Long, ông Minh khẳng định rằng lớp men bảo vệ sau khi trải qua nhiệt độ nung cao sẽ tồn tại được bền vững “hàng nghìn năm mà không gặp vấn đề gì”, và ngăn được chất độc tiết ra từ màu khi sản phẩm trong quá trình sử dụng tiếp xúc lâu với kiềm hay axit. Cũng nhờ bảo đảm an toàn như vậy nên sản phẩm của Minh Long dễ dàng vượt qua được các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật của những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản. 
 
Khi được hỏi vì sao các hãng làm gốm vẽ tay trên thế giới không nung được ở nhiệt độ cao như Minh Long, ông Minh nói: “Vì công nghệ của chúng tôi rất khó”. Khi gốm được nung ở nhiệt độ cao, men và màu cùng bị tan chảy và thay đổi về cấu trúc cũng như bước sóng ánh sáng khi nhìn vào, khiến hình ảnh và màu sắc cũng bị thay đổi không còn được như ý muốn ban đầu của người nghệ nhân. Ngoài ra, khi men nóng chảy thì màu vẽ bên dưới cũng có thể bị rung, nhòe, dịch chuyển, khiến nét vẽ bị biến đổi, ông nói. Tuy nhiên, ông không tiết lộ chi tiết bí quyết giúp Minh Long vượt qua những khó khăn kỹ thuật này. “Đơn giản là chúng tôi nắm vững và vận dụng một số kiến thức vật lý, và trong chừng mực nào đó biết cách làm ảo thuật– những nhà ảo thuật đều là những người giỏi vận dụng các kỹ thuật vật lý – để có thể đạt được những kết quả mà người khác không đạt được”.   
 
Linh tính và những may mắn tình cờ 
 
Nói về bí quyết thành công của bản thân, ông Minh khiêm tốn cho rằng mình là người gặp nhiều may mắn. Ông kể nhiều câu chuyện để chứng minh cho sự may mắn của mình. Một lần ông đóng vai là người đang tìm mua lò gốm vào tham quan một nhà máy sản xuất gốm ở châu Âu, kỳ thực là ngầm tìm cách học hỏi về cách bố trí máy móc của xưởng gốm. Nhưng người quản lý nhà máy hôm đó đoán được ý định của ông nên chỉ cho ông đứng xem lò chứ không cho tự do đi xem những nơi khác. “Tôi đứng đó hết một buổi mà không có cách gì khác, đành phải thất vọng đi về, trong lòng thầm nghĩ vậy là tốn sức vô ích, mất công chạy ô tô xa 3-4 trăm km mà đành về không.” Nhưng thật tình cờ, khi về trên con đường cao tốc nơi những chiếc xe đều phóng với tốc độ 150-170 km/giờ, một người quen đi ngược chiều, cũng chính là người bán lò cho ông Minh, đã nhận ra xe của ông và đánh xi nhan để hai bên dừng lại. Khi biết được nỗi thất vọng của ông, người bạn liền thuyết phục ông cùng quay lại nhà máy đó vào ngày hôm sau. “Khi chúng tôi quay lại thì người phụ trách hôm đó là người phó của vị quản lý hôm trước, và anh này vì không biết được ý đồ của tôi nên đã cho phép tôi đi lại tham quan tự do”. Nhờ cơ hội đó mà ông học hỏi được từ xưởng gốm đó những thông tin thiết yếu về bố trí thiết bị, hoàn toàn khớp với dây chuyền công nghệ mà Minh Long khi đó nhắm tới. 
 
Nhưng với những công nghệ cốt lõi bên trong – như về cấu trúc vật liệu hay những loại màu, men mới – là những điều không thể học lỏm được, thì ông bắt buộc phải đầu tư nghiên cứu, học hỏi qua sách vở và nhiều nguồn khác nhau. Trong quá trình đó, ông cũng nhận được những sự giúp đỡ hoàn toàn bất ngờ. Có những người bạn không làm nghề gốm, nhưng bỗng mang đến tặng cho ông những cuốn sách tư liệu hữu ích. Cũng chính là bạn bè đã giới thiệu về máy đo laze để ông nghiên cứu sử dụng thay thế cho cách đo cổ điển, từ khi loại thiết bị này còn rất mới và không mấy ai biết. “Khi mua máy đo laser, chúng tôi phải năn nỉ, thuyết minh rất nhiều họ mới tin là dùng cho sản xuất gốm sứ, và người bán máy bắt tôi cam kết không dùng vào mục đích quốc phòng”, ông Minh kể. 
 
Cũng có lúc sự may mắn của ông tình cờ đến mức lạ lùng, như lần ông tự mày mò chế được màu đỏ ô xít thiếc của Anh mà ông không thể tìm được trong sách vở vì nhà sản xuất giấu kín bí quyết. Đó là một lần làm việc cẩu thả, do nghiên cứu tìm tòi lâu ngày mà không ra nên ông mỏi mệt, lười không dọn dẹp phòng thí nghiệm. Tình cờ trong số các màu rơi vãi lẫn lộn chồng chéo vào nhau, ông linh cảm rằng một trong số đó chính là thứ màu ông hằng tìm kiếm, và linh tính của ông đã hoàn toàn đúng.
 
Ông Minh cho rằng yếu tố may mắn tình cờ là rất cần thiết trong mọi việc, kể cả trong công việc của những người làm khoa học và công nghệ. Nhưng điều quan trọng là làm sao nắm bắt được những cơ hội bất ngờ đó. “Người khác có thể cũng gặp tình huống tình cờ như tôi, nhưng điều khác biệt là tôi có linh tính để nắm bắt được”.

Vào sinh ra tử
 
Làm gốm tới mức đam mê như ông Lý Ngọc Minh thì cũng có cả những lần vào sinh ra tử. Ông kể cho chúng tôi về những chuyến đi lý thú nhưng cũng đầy bất trắc tới các mỏ đất, trong đó có hai lần suýt bỏ mạng khi một lần bị kẹt trong mưa rừng Phú Thọ giữa lúc chiều tối, và một lần đi đường 9 Nam Lào gặp đúng đoạn đèo bị sạt lở. Ông không chỉ tới các mỏ đất ở Việt Nam, mà lặn lội đến cả những mỏ đất lớn trên thế giới, tìm xuống những hầm mỏ đất sâu tới hàng trăm mét ở Trung Quốc, trong những chiếc lồng sắt không đèn đuốc mà mỗi lần đi xuống phải mất hàng 5-7 phút. “Vừa đi tôi vừa run, sợ rằng không may lồng bị đứt xuống thì biết làm sao”, ông vui vẻ kể lại.
 
Nhưng đối với ông, những chuyến đi đó chưa thể so được với ba lần “sinh tử”, khi ông cận kề cái chế trong gang tấc. Lần thứ nhất vào năm 1980, khi ông xây một hồ nước mấy trăm khối để lọc đất. Thời đó rất thiếu xi măng nên ông tiết kiệm, pha lẫn với vôi. Hậu quả là nước bị rò dưới chân. Chỉ giây lát sau khi ông xem xét chỗ rò và quyết định ngày hôm sau sẽ sửa lại, vừa bước đi được 5 m thì toàn bộ hồ đang đầy bị vỡ toang. “Nếu tôi ở gần hơn chắc chắn toàn bộ bức thành bể xây gạch dày 20 phân sẽ cuốn bay vào đầu”, ông kể. Lần thứ hai xảy ra khoảng một năm sau, vào thời kỳ Minh Long còn làm bộ trà phỏng theo hình trái măng cụt. Để ra màu măng cụt phải sử dụng men chảy, vì vậy phải dùng máy để mài những mẩu men rớt xuống chân đế sản phẩm. Thấy công nhân mài quá chậm ông đích thân thử làm nhằm tìm ra cách nhanh hơn hướng dẫn lại cho họ. Bánh đá mài thời đó phải dùng loại của Liên Xô, không được thẳng như của Nhật nên rất dễ bị rung. Khi ông vừa ngồi xuống thì nghe một tiếng nổ lớn như lựu đạn. Nhìn xuống tay thấy bình trà măng cụt vỡ nát, nhìn lên trên thấy một mảnh bánh đá mài bắn văng lên cắt đứt ngọt tấm mái tôn. Hai mảnh còn lại của chiếc bánh đá mài bay sát người của ông. Với tốc độ quay của bánh đá mài lên tới 2500 vòng/phút, nếu chúng văng vào người thì chắc chắn ông không thể tránh được và sẽ rất khó sống sót. Còn lần thứ ba xảy đến sau đó vài năm, khi ông ở trong phòng thí nghiệm mải mê nấu keo chế loại màu nhẹ lửa, đang tập trung cao độ nên sơ ý, để cho hai sợi dây điện âm – dương kẹp vào tay. “Tôi nghe như có tiếng pháo nổ và lửa đất trên đầu, miệng há ra mà không kêu được”, ông kể. Khi đó ông nghĩ thầm chắc chắn mình sẽ không thể thoát được, nhưng thật may mắn là sợi dây điện không đủ dài nên bị tuột ra theo cú ngã của ông. 
 
Ngoài những lần cận kề cái chết đó, còn không ít những lần biến cố xảy đến với xưởng gốm, như có lần phòng thí nghiệm của ông bùng cháy khắp nơi, khói bốc nghi ngút nhưng không hiểu sao lửa không bùng to và cuối cùng dập tắt được. Nhưng tất cả những hiểm nguy đó xảy ra không làm ông e ngại, chùn chân. Trái lại, “chúng xảy đến như để báo cho tôi biết rằng mình được phù trợ để làm được những việc lớn mà mình luôn theo đuổi”, ông nói.
 
Đắc nhân tâm
 
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm sứ - cả ông nội và cha đều theo nghiệp gốm – song chưa từng có ai đẩy được cơ nghiệp lên tới đỉnh cao như Lý Ngọc Minh, do ông không dễ dàng thỏa mãn với những gì làm được mà luôn đặt ra mục tiêu hướng tới cho doanh nghiệp, cả trước mắt và lâu dài. Trước mắt là tìm cách cải tiến sản xuất để có thể hạ thấp chi phí, tạo ra được mức giá đủ thấp giúp công ty trụ vững qua thời kỳ khó khăn chung về kinh tế, và hướng tới mục tiêu rút ngắn quy trình sản xuất để từ hòn đất ra tới sản phẩm chỉ mất 24 tiếng đồng hồ thay vì hàng tuần lễ như hiện nay. Xa hơn là tạo ra những sản phẩm mới có tính đột phá về kỹ thuật, không chỉ thuần túy phục vụ tiêu dùng mà sẽ có cả những sản phẩm phục vụ các ngành công nghiệp. “Chúng tôi sẽ tạo tiền đề để thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp kế tiếp thực hiện được bước phát triển này trong tương lai”, ông nói.
 
Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đề ra, theo ông Minh phải thực hiện tốt nguyên tắc quyền lợi người lao động gắn liền với quyền lợi của doanh nghiệp, đồng thời phải truyền được cảm hứng và nhiệt huyết từ người chủ doanh nghiệp tới mọi người lao động, hay nói cách khác là khả năng thu phục nhân tâm. “Quan hệ giữa tôi với công nhân vừa là chủ thợ, vừa là thầy trò, vừa là anh em”, ông nói. 
 
Khi cùng ông Minh đi tham quan nhà máy, chúng tôi thấy ông vừa giới thiệu từng chi tiết dây chuyền công nghệ, vừa liên tục dừng lại trao đổi công việc với mọi người ở mọi cấp bậc, từ thấp tới cao, với tâm thế ôn hòa, cẩn trọng, và hết sức giản dị. Trong ánh mắt những người nhân viên chúng tôi thấy sự tin tưởng và yên tâm thoải mái, hoàn toàn không có sự xa cách. Không chỉ những người công nhân, mà tất cả mọi người từng tiếp xúc với ông Minh đều tìm thấy ở ông sự bình dị nhưng không sơ sài, luôn chu đáo với mọi người. Và có lẽ đó là lý do nhiều người chỉ một lần tiếp xúc đã tìm cách giúp đỡ ông một cách hoàn toàn vô tư. Ông kể với chúng tôi rằng năm 1987, trong dịp đi Đức dự một hội chợ ở Leipzig, anh tham tán thương mại của sứ quán Việt Nam khi nghe ông nói chuyện, bày tỏ mong muốn được đi tham quan một nhà máy làm sứ cách điện, đã ngay lập tức đồng ý giúp đỡ. Ông còn nhớ rằng đêm hôm ấy hai người phải dậy từ 3 giờ sáng, ra đường giữa cái rét 0 độ C, và đi xe lửa mất 3 tiếng đồng hồ. Nhưng thật đáng tiếc sau đó hai người bị thất lạc liên lạc, và đây là điều mà đến bây giờ ông vẫn còn cảm thấy áy náy.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Giới sưu tầm cổ vật và những ai quan tâm cổ ngoạn, đều từng nghe qua bộ sưu tập Dương - Hà. Nhưng phải đến khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM công bố những thông tin mới, cụ thể hơn, người ta mới giật mình vì giá trị rất lớn của nó. 
 
Diện kiến chỉ một phần nhỏ bộ sưu tập, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM (2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1), kéo dài sau Tết Quý Tỵ, cũng đủ cho một hình dung về tầm mức của bộ sưu tập và một mường tượng rằng báu vật trong dân gian chưa được biết hết còn lớn đến mức nào.
 
Những thông tin ngắn gọn “giản dị” về bộ sưu tập Dương - Hà: số lượng: 3.360 hiện vật, niên đại: khoảng 2.500 năm trước đến đầu thế kỷ XX, nguồn gốc: từ Á sang Âu, giá trị: vô giá. TS Phạm Hữu Công, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử chỉ vào cuốn danh mục dày gần gang tay liệt kê hiện vật trong bộ sưu tập: “Nếu giới thiệu đầy đủ về bộ sưu tập, phải mất cả tuần hoặc hơn nữa. Hội đồng thẩm định chưa có thời gian để thẩm định vì quá nhiều”.
 
Ngay cả khi “sờ” đến, cũng có một số món mà các nhà khoa học thừa nhận là “hóc búa”, chưa nhận diện được lai lịch, như một hiện vật lạ mới chỉ được biết là của quân đội Nhật Bản thời kỳ đánh nhau ở Đông Dương... Bộ sưu tập có nhiều tiêu bản lạ lùng, quý hiếm, gồm nhiều chất liệu, xuất xứ, thể hiện đa dạng phong phú các đề tài sinh hoạt, tín ngưỡng, trang trí, phục vụ các thú thưởng ngoạn… Trong số này có bộ câu đối cảnh vật, hình người hóa chữ, là bộ thứ hai được biết đến ở Việt Nam; bộ sưu tập ngọc - ngà; gốm Nam Bộ; gốm Nhật; khoảng 400 món đồ sứ đề tài long ẩn… 
 
Giá trị của bộ sưu tập đã gây chú ý cho các nhà nghiên cứu nước ngoài. Trong quá trình thực hiện cuốn sách Vietnamese Ceramics - A Separate Tadition (Gốm Việt Nam - một truyền thống biệt lập), hai nhà nghiên cứu cổ vật người Anh John Stevenson và John Guy là hai trong số những người đầu tiên được tiếp cận bộ sưu tập vào những năm 1996 - 1997. Gia sản này khi đó được người con gái Dương Quỳnh Hoa (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam) cùng chồng là ông Huỳnh Văn Nghị quản lý. Một số món cổ vật gốm ấn tượng trích từ bộ sưu tập đã được giới thiệu trân trọng trong cuốn sách. 
 
Bộ sưu tập mang họ của đôi vợ chồng trí thức Nam Bộ, Dương Minh Thới (1899 - 1976) và Hà Thị Ngọc (1902 - 1979) này, cùng với bộ sưu tập của học giả Vương Hồng Sển, được các nhà nghiên cứu đánh giá là đã góp phần truyền bá tình yêu cổ vật, cổ vũ phong trào tìm hiểu và sưu tầm đồ cổ ở miền Nam những năm 60 - 70 thế kỷ trước, đồng thời chống lại việc chảy máu cổ vật ra nước ngoài. 849 món đồ cổ của cụ Vương đã được hiến tặng cho Nhà nước, Bảo tàng Lịch sử tiếp nhận năm 1997, và nay bộ sưu tập Dương - Hà cũng được đơn vị này bảo quản. 
 
Trong vòng 15 năm, có hai bộ sưu tập “khủng”, tài sản văn hóa lớn, giá trị kinh tế cao được người dân hiến tặng cho Nhà nước, là một kỷ lục của TP.HCM. Bên cạnh đó, còn có hình thức khác là những cuộc triển lãm với hiện vật do các nhà sưu tập tư nhân cho mượn. Những lần trưng bày này luôn có hiện vật mới, độc đáo xuất hiện gây bất ngờ ngay cả với người trong giới. Điều này nói lên thực tế, ngoài hai thương hiệu lớn Dương - Hà và Vương Hồng Sển, trong dân gian còn nhiều nhân vật “ẩn dật” khác, với những bộ đồ cổ nếu không quy mô về số lượng thì cũng độc đáo, quý hiếm về chất.
 
Một phần bộ sưu tập Dương-Hà, gồm 508 tiêu bản được rút từ bộ sưu tập cổ vật đồ sộ, gồm 3.360 hiện vật, với nhiều chất liệu, xuất xứ từ nhiều quốc gia châu Á, châu Âu, có niên đại từ thời Tiền-Sơ đến đầu thế kỷ 20, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM (số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q.1, TP.HCM) từ cuối tháng 12/2012 đến qua Tết Quý Tỵ 2013.
 
Ông Phạm Hữu Công, đồng thời là ủy viên Hội đồng giám định cổ vật Sở VH,TT&DL TP.HCM nói: “Tôi quen biết nhiều nhà sưu tầm cổ vật tư nhân, nhưng cũng không biết có còn ai sở hữu bộ sưu tập cỡ như bộ Dương - Hà không”. Số lượng các nhà sưu tập tư nhân tại TP.HCM hiện rất đông đảo với nhiều nhánh sưu tầm phong phú, đa dạng về niên đại, chất liệu, xuất xứ. Ngoài Hội Cổ vật TP.HCM với gần 100 thành viên, Chi hội Di sản văn hóa gốm Nam Bộ với gần 70 hội viên, trong đó có nhiều nhân vật tên tuổi, còn có nhiều tay chơi đồ cổ tự do đang hoạt động âm thầm trong dòng chảy riêng của mình. 
 
Trong lúc các nhà sưu tập thận trọng trong việc thành lập bảo tàng tư nhân vì nhiều lý do như thiếu mặt bằng, kinh phí, an ninh…, còn việc hiến tặng cho Nhà nước khối tài sản tích cóp cả đời không phải ai cũng có thể làm được, thì những cái bắt tay giữa Nhà nước với tư nhân là một cách hay mà hai bên cần nghĩ đến thường xuyên. Đó là lối để những di vật của người xưa đến được với nhiều người nay, để hiểu thêm rằng đây không phải là khu vực xa lạ với những câu chuyện khô khan về bao món đồ cũ rích.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Ngày nay với kiến trúc các khu chung cư hiện đại, các biệt thự hiện đại, việc trang trí không gian phòng khách bằng 1 bức tranh ghép khổ lớn sẽ tạo nên điểm nhấn cho phòng khách nhà bạn, với sự ấm áp của gốm, mát của sứ cùng với cách khắc họa hình ảnh làng quê Việt lên tranh, sự khéo léo thổi hồn vào các bức tranh càng làm cho phòng khách nhà bạn trở nên đẹp hơn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

Tranh ghép bằng gốm và sứ Bát Tràng - Cảm hứng trang trí nội thất phòng khách nhà bạn

 

 
Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Cùng với gốm Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu... nổi tiếng của khu vực phía Bắc, làng gốm Trù Sơn (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) là một trong những “cái nôi” về gốm nổi tiếng ở khu vực Bắc Trung bộ. Nhưng hiện nay, gốm Trù Sơn đang đứng trước nguy cơ mai một, vì không tìm được đầu ra, chưa được sự quan tâm và đầu tư thích đáng...
 
Ở Trù Sơn hiện nay, những phụ nữ tầm tuổi sinh khoảng 1954 - 1970 vừa là “bà chủ” vừa là thợ chính, còn những phụ nữ sinh trước 1954 do điều kiện và sức khỏe nên đi làm giúp và truyền lại nghề. Gọi là truyền nghề, nhưng thực chất là truyền cho những người đã... biết rồi, còn lứa tuổi sinh từ sau năm 1970 không mấy ai tập làm nghề này nữa, thế hệ trẻ sau này càng không có người.
 
Chúng tôi vào xóm 11, chỉ thấy chị Nguyễn Thị Hồng lủi thủi ngồi “vắt” đất nặn nồi một mình. để có được sản phẩm gốm, chồng chị Hồng phải sang xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) đào đất sét chở về, sau đó phải đạp đất cho nhuyễn, lọc sạn, cắt... “vắt” rồi nặn. Sau công đoạn nặn là đem phơi nắng cho khô và cuối cùng bỏ lò nung 4 - 5 giờ, tùy theo sản phẩm có được nắng hay không. Đó là chưa kể công đem đi “rao khắp nơi” bán hàng.
 
Chị Hồng tâm sự rằng làm nghề này “ức” nhất là phơi sản phẩm gặp trời mưa. Có bữa đang ăn cơm, mưa bất ngờ đổ xuống, chạy ra “cứu” được “hắn”, quay vô nhà thì bữa cơm đã bị chó, mèo “ăn tan”. Cực vậy, nhưng sản phẩm làm ra, cũng chỉ được từ 4.000 đồng/cái cho đến tầm 10.000 đồng, 25.000 đồng/cái... (bán tại chỗ). Nếu muốn bán được giá thì phải chở vào TP Vinh, Hà Tĩnh, ra Thanh Hóa, Ninh Bình... 
 
Về Trù Sơn hôm nay, nếu không được biết trước sẽ khó có thể nhận ra nơi đây có một làng nghề làm đồ gốm. Các dấu tích của làng nghề đã bị che khuất bởi nhà cửa, tường rào... Anh Nguyễn Hữu Lịch, Phó Chủ tịch UBND xã Trù Sơn cho biết, trước đây, việc làm nghề gần như quanh năm, rộ lên vào 3 tháng áp tết. Nhưng sau này, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cơ chế thị trường, nghề không còn hợp với lớp người trẻ, vốn ít, thu nhập từ nghề thấp... nên nghề chỉ còn chủ yếu ở xóm 10 và 11 với khoảng 40 hộ làm thường xuyên.
 
Theo đánh giá, trong khi gốm Hải Dương đa dạng, hình thức đẹp, được tráng men... thì gốm Trù Sơn còn đơn giản, làm bằng phương pháp thủ công, không tráng men, chỉ có màu đất. Nhưng có lẽ, chính vì “chỉ có màu đất” nên gốm Trù Sơn có nét đặc trưng riêng. Đất làm gốm được lấy chủ yếu từ xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc), hoặc xa hơn nữa tận xã Sơn Thành (huyện Yên Thành). Đây là loại đất sét mịn, khá “trong”, ít cợn... Thông thường, khi được đào sâu xuống tầm 1m thì mới có loại đất cần tìm, đó là đất sét trắng.
 
Nhưng điều đặc biệt là từ màu trắng này, sau khi được nung lên qua lửa đỏ thì sẽ cho ra màu đỏ - hồng như màu bình minh rất đẹp. “Người ta thì “cô” vàng, còn người quê tui “cô” mồ hôi” - anh Lịch ví von. Chính vì nghề “bạc” nên hiện không mấy ai muốn theo nghề. Nhiều nhiệm kỳ xã đã đưa vấn đề phát triển làng nghề vào nghị quyết, nhưng đến nay vẫn chưa đâu vào đâu. 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
 
Bạn đang xem:Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất
9.1/10 -  12 bình chọn
Trang chủ
Gốm sứ nội thất
Tranh ốp tường, trang trí

Cơ sở sản xuất Nội Thất Thời Nay

Hotline: 0979 892 690
Email: sales.noithatthoinay@gmail.com

Địa chỉ Cơ sở 1:   Số 14, ngõ 59, phố Nam Dư, Lĩnh Nam, Hà Nội

              Cơ sở 2:   Số 4, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội

Copyright © 2012. Thiết kế bởi noithatthoinay.com

LiveZilla Live Help
Text Link:YH:dungnt_23121988 : |||