Logo
 
Hotline: 0934 231 288
Banner Sub 1
KHÔNG GIAN NỘI THẤT GỐM SỨ
Mr. Dũng Kinh doanh: Mr. Dũng Mr. Dũng Kỹ thuật: Mr. Dũng

Sưu tập gốm cổ Việt Nam

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885.

Xem tiếp
Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Giới sưu tầm cổ vật và những ai quan tâm cổ ngoạn, đều từng nghe qua bộ sưu tập Dương - Hà. Nhưng phải đến khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM...

Xem tiếp
Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Các di vật, cổ vật được trưng bày gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... từ đầu Công nguyên đến các triều đại Lý, Trần, Lê.

Xem tiếp
Trang

Bài viết tiêu điểm

Bạch Thổ phường thời Lý - Làng Bát Tràng thời nay

Bạch Thổ phường thời Lý - Làng Bát Tràng thời nay

Bạch Thổ phường (phường Đất sét trắng) là tên gọi đầu tiên của Bát Tràng vào thời sơ khai khi người dân theo vua Lý Công Uẩn di cư ra đây khai hoang, làm gốm. Cùng với biến thiên của lịch sử, Bát Tràng trải qua nhiều tên gọi khác nhau nhưng nghề gốm thì không ngừng phát triển.
 
Ra đời từ lâu nên người làng gốm cổ đã có kinh nghiệm truyền đời. Đáp ứng nhu cầu của thị trường, chợ gốm Bát Tràng hình thành mấy năm trở lại đây đã bày bán  nhiều hàng hóa thông dụng bằng gốm sứ, thu hút đông đảo du khách thập phương ghé thăm và mua hàng.
 
Chợ gốm Bát Tràng luôn mới lạ và hấp dẫn người mua bởi sự tinh tế và tài nghệ của những người thợ làng nghề. Từ men lam, men trắng truyền thống, người ta chế ra những màu men mới mang phong cách hiện đại như men rạn, men kem, men kết tinh, thậm chí kết hợp với cả những chất liệu khác như sơn mài…
 
Các hoạ tiết như đào, cúc, trúc, mai hay chim muông, cây cỏ làm bừng lên sắc xuân tự nhiên cho những lọ hoa, chén đĩa quen thuộc. Chính những món đồ đơn giản ấy lại góp phần làm cho không khí  tết  ở mỗi gia đình Việt thêm ấm cúng hơn.
 
Ngày tết, đồ gốm sứ là một trong những mặt hàng được ưa chuộng để sử dụng cho gia đình hay đem biếu. Bởi vậy, các xưởng gốm sứ chuyên làm đồ gia dụng ở Bát Tràng như Phúc Thanh, Bảo Quang, Cường Huệ … cũng tất bật hơn với công việc sản xuất.
 
Gần Tết, các sạp hàng ở chợ gốm Bát Tràng phong phú với nhiều mặt hàng như:  Lọ hoa, bình cắm đào, khay đựng mứt kẹo, chậu cảnh và nhiều đồ trang trí. Không khí mua sắm trong chợ luôn rộn ràng, tấp nập, mang đến cho cả người mua và người bán niềm vui háo hức chờ đón một năm mới với nhiều tài, lộc.
 
Đến chợ gốm Bát Tràng trước Tết hay sau Tết đều có cái hay riêng. Trước Tết, du khách đến chợ thường mua một vài món đồ về làm quà hay sử dụng trong gia đình; sau Tết, họ đến để thưởng ngoạn sắc xuân trong từng sản phẩm gốm được bày bán ở chợ.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà

Đây không phải là lựa chọn số một về sự sắp đặt trưng bày sưu tập ấm trà , tuy nhiên kệ gổ thiết kế thích hợp sẻ tôn lên giá trị vật trưng bày và thu hút khách thưởng ngoạn. Kiểu thức trang trí này dường như phù hợp với nội thất phương Đông.
 
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Phục dựng dòng gốm Chu Đậu

Phục dựng dòng gốm Chu Đậu

Trong dân gian truyền miệng “Sứ nhất sứ Giang Tây, Gốm nhất gốm Chu Đậu” đủ thấy dòng gốm này được đánh giá cao đến mức nào. Phát triển rực rỡ trong suốt thời Lý – Trần – Lê – Mạc (thế kỷ XV-XVII) nhưng do những biến cố của lịch sử dòng gốm Chu Đậu - tuyệt đỉnh của Gốm cổ Việt Nam - bị thất truyền hơn 500 năm qua.
 
Lai lịch dòng gốm cổ
 
Làng Chu Đậu là một vùng quê yên ả bên tả ngạn sông Thái Bình, từ lâu nổi tiếng về nghề dệt chiếu. Nhắc đến “chiếu Đậu” thì người Bắc nào cũng biết. Nhưng nói về gốm Chu Đậu thì hầu như chẳng ai biết gì, bởi suốt nhiều thế kỷ qua, nghề gốm Chu Đậu đã thất truyền. Những bí mật sẽ mãi nằm sâu trong lòng đất, nếu không có một biến cố bất ngờ.
 
Năm 1980 ông Makato Anabuki - Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, trong một chuyến đi công tác ở Thổ Nhĩ Kỳ đã nhìn thấy một chiếc bình gốm hoa lam, trang trí hoa sen và cúc dây cao 54 cm được trưng bày tại Viện Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul . T
 
rên vai bình có ghi 13 chữ Hán “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút”, nghĩa là “Năm Thái Hòa thứ tám (1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách vẽ chơi”. Vốn đã có thâm niên công tác tại Việt Nam và đặc biệt cũng là một người say mê gốm cổ, ông Makato Anabuki đã xác định bình gốm cổ này có xuất xứ từ Việt Nam.
 
Sau đó ông đã viết một lá thư gửi ông Ngô Duy Đông (lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương – tên cũ là Hải Hưng) nhờ xác minh giúp xem chiếc bình gốm quý giá đó có xuất xứ từ làng gốm nào.
 
Từ  thông tin trên, bảo tàng, sở Văn Hóa, các nhà nghiên cứu của Hải Dương đã vào cuộc sưu tầm những dấu vết về làng gốm cổ.
 
Năm 1986, người ta khai quật di tích Chu Đậu thuộc thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương. Kết quả đã tìm thấy nhiều di vật gốm mỹ nghệ cao cấp mà từ trước đến nay chưa từng được phát hiện, cũng như chứng tỏ nơi đây từng là một trung tâm sản xuất gốm lớn của Việt Nam .
 
Năm 1999, khi con tàu đắm ở Cù Lao Chàm (Hội An) và Pandanan (Philippines) được trục vớt đã thu vớt hơn 20 vạn sản phẩm có xuất xứ từ Chu Đậu. Chứng tỏ thời kỳ hoàng kim,  gốm Chu Đậu đã giao thương buôn bán không chỉ trong khu vực mà còn vươn ra với thế giới (Hiện nay người ta đã thống kê được Gốm Chu Đậu đang được trân trọng lưu giữ tại 46 bảo tàng danh tiếng ở hơn 30 quốc gia trên khắp thế giới).
 
Gốm cổ hồi sinh
 
Đến thăm Chu Đậu vào ngày cuối đông, rất may mắn tôi được gặp ông Nguyễn Văn Lưu- giám đốc xí nghiệp gốm Chu Đậu. Ấn tượng đầu tiên về ông là vẻ rắn rỏi, cương nghị và hồn hậu đậm chất “lính”.
 
Ông dẫn tôi đi một vòng thăm Xí nghiệp trên diện tích gần 4 hecta và kể về quy trình tạo ra một sản phẩm gốm. Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất (Đất sét ở Chu Đậu lấy từ vùng thổ nhưỡng trầm tích phù sa của 6 con sông lớn – Lục Đầu Giang: sông Lục Nam, Sông Thương, Sông Cầu, Sông Đuống, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình).
 
Sau đó đất được tạo dáng "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay. Để tạo hoa văn, thợ gốm dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoạ tiết; phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm.Vì thế mà các nhà nghiên cứu mới đúc kết quy trình sản xuất ra gốm Chu Đậu mang đầy tính tâm linh: Đất tạo nên xương cốt, nước tạo ra hình hài, lửa tạo ra thần thái! Đó là sự kết hợp hài hòa của âm dương ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ).
 
Khi được hỏi về quá trình “phục hưng” gốm cổ ông hào hứng “Năm 2000, khi tôi đang làm trưởng phòng gốm mỹ nghệ của Haprosimex thuộc Tổng Công ty Thương mại Hà Nội có thương hiệu là Hapro tại TPHCM thì Báo Sài Gòn Giải Phóng đăng tin trục vớt một con tàu ở Cù lao Tràm – Quảng Ngãi trong đó có 40 vạn cổ vật được xác định là gốm Chu Đậu của quê hương Nam Sách chúng tôi. Anh Nguyễn Hữu Thắng – Tổng giám đốc Hapro cũng là một người con của sông Kinh Thầy nảy ra ý tưởng cử tôi về quê, phục hưng nghề gốm của quê hương...
 
Nói đến đây giọng ông bỗng chùng xuống “Có ý tưởng, quyết tâm như vậy nhưng ngày đầu về đây thì khó khăn trùng trùng. 10 năm trước Chu Đậu còn là một làng quê nghèo, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông và dệt chiếu cói.
 
Đất nơi này lúc đó là sình lầy, hoang vu, đường giao thông còn chưa có. Nhưng điều khó khăn nhất là nghề gốm Chu Đậu ngày xưa hoàn toàn không còn trong tâm thức của người dân ở đây. Các nghệ nhân xưa cũng không còn một ai, các bí quyết cũng đã bị thất truyền.
 
Năm 2001, chúng tôi đã đi khắp nơi mời được hơn chục nghệ nhân nổi tiếng, từ Nam ra Bắc, những nhà khoa học... trong đó có những nghệ nhân nổi tiếng khu vực và Việt Nam như nghệ nhân – Bàn tay vàng Đông Dương Vũ Thế Cửu, nghệ nhân - Hoạ sĩ Vũ Bá Định, Tiến sĩ hoá Nguyễn Năng Thi... Chính họ đã cùng chúng tôi bỏ nhiều công sức để tìm tòi, nghiên cứu và đặt những dấu ấn đầu tiên phục dựng lại nghề gốm Chu Đậu, từ việc mô phỏng lại kiểu dáng gốm cổ, chất liệu, màu men, cách thức sản xuất...
 
Sau đó, chúng tôi đã tổ chức mở nhiều khoá học cho con em ở địa phương về kiến thức làm gốm, thu nhận họ về Xí nghiệp và trở thành những người thợ gốm .Đào tạo thợ cũng gian nan không kém, 300 em thì chỉ có khoảng 15-20 em thành thợ gốm. Khả năng về kỹ thuật thì có thể dạy được nhưng năng khiếu về thẩm mỹ, cái “duyên” về nghề thì do “trời ban”.
 
Ông Lưu giải thích “Gốm Chu Đậu ngày nay không sản xuất đồng loạt, dùng máy mà tất cả dùng tay. Từ công đoạn tạo dáng, người thợ phải dùng tay “vuốt” trên  bàn xoay để tạo hình cho sản phẩm. Đến công đoạn tạo hoa văn, người thợ gốm vẽ trực tiếp vào mỗi sản phẩm, vì thế mỗi sản phẩm sản xuất ra ở đây có thể nói là “độc nhất vô nhị”.
 
Cũng là những bình hoa lam, bình tỳ bà, lọ hoa, chén đĩa hay những khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống của cư dân đồng bằng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, chim đậu trên cành hoa, đàn cá bơi dưới nước, mái nhà tranh ven sông... nhưng dưới sự “nhạy cảm” của đôi bàn tay, mỗi sản phẩm trở thành một tác phẩm mang cái thần, cái hồn rất riêng của mỗi người thợ gốm.
 
Đưa tôi đến phòng trưng bày sản phẩm của Xí nghiệp, diện tích 1.000m2   với hàng ngàn, hàng vạn các sản phẩm đủ loại kiểu dáng, kích cỡ, hoa văn, họa tiết ,ông Lưu phấn khởi khoe “Bước đầu khó khăn là thế, nhưng 10 năm qua gốm Chu Đậu đã tồn tại và từng bước khẳng định được vị thế của mình. Hiện nay mỗi năm Chu Đậu sản xuất ra hơn chục triệu sản phẩm Các sản phẩm gốm sản xuất ra không chỉ tiêu thụ mạnh trong nội địa mà còn xuất đi trên 50 quốc gia thế giới như châu Âu, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Nhật, Hàn Quốc. Đặc biệt người Nhật rất chuộng dòng sản phẩm này và chén, ấm uống trà của Trà đạo Nhật Bản chính là những sản phẩm của dòng gốm Chu Đậu.
 
Cầm trên tay một chiếc hoa lam tôi hỏi ông: - Chiếc bình ở Istanbul giống như chiếc bình này phải không ạ?
 
Ông Lưu cười, cái cười hào sảng hồn hậu rất “lính” – Không đâu, chiếc bình ở Istanbul hiện giờ có giá khoảng hơn một triệu đô, còn cái bình cháu cầm thì chỉ đáng giá vài trăm ngàn đồng Việt Nam và chú có thể tặng cháu.
 
Rồi ông giải thích ngay: Đỉnh cao của gốm được gói gọn trong 5 tiêu chí, đó là: Trong như ngọc, trắng như ngà, mỏng như giấy, sáng như gương và kêu như chuông. Đến nay gốm Chu Đậu do chúng tôi sản xuất cũng đã hội tụ gần đủ cả 5 yếu tố đó. Tuy nhiên, do các bí kíp đã thất truyền, nên một số đặc tính gia truyền của gốm Chu Đậu cổ chúng tôi vẫn chưa nghiên cứu và phỏng theo hết được. Đặc biệt là loại men “Tam Thái” – men ba màu đặc sắc của gốm Chu Đậu cổ xưa. Thế mới thấy cái tài hoa, cái kỳ diệu của ông cha ta.
 
Cầm chiếc bình gốm trên tay ngoài sự khâm phục, tự hào đối với thế hệ cha ông đã tạo ra được dòng gốm nổi tiếng khắp thế giới cách đây hàng thế kỷ, tôi còn cảm phục cái tài và cái tâm của những người con đất Việt bảo tồn và phát huy được Gốm Chu Đậu, một dòng gốm mang bản sắc thuần Việt, có giá trị lịch sử, văn hoá sâu sắc là một điều đáng trân trọng , tự hào.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Chiếc bát sứ quý hiếm thời Khang Hy

Chiếc bát sứ quý hiếm thời Khang Hy

Một chiếc bát sứ đỏ họa tiết hoa sen quý hiếm có từ đời vua Khang Hy- Trung Quốc, giai đoạn 1662-1722 vừa được bán với mức giá kinh ngạc 9.1 triệu đô la Mỹ ( tương đương gần 190 tỷ đồng) trong một cuộc mua bán tại Hồng Kông.
 
Với mức giá 74 triệu đô la Hồng Kông (tương đương 9.1 triệu đô la Mỹ) đây được coi như một kỷ lục thế giới mới đối với các sản phẩm sứ Trung Quốc đời vua Khang Hy (thuộc triều đại Nhà Thanh) sau khi được một công ty tại Hồng Kông mua lại từ tổ chức đấu giá Sotheby.
 
Chiếc bát chạm khảm tráng men được trang trí với màu hồng, vàng và màu xanh của lá sen đã gây chú ý lập tức tại buổi đấu giá. Chiếc bát ban đầu được dự kiến sẽ đạt mức giá 70 triệu đô la Hồng Kông, nhưng đã đạt được mứa giá 74 triệu đô la Hồng Kông.
 
Người bán đấu giá cho biết, chiếc bát đã phá vỡ kỷ lục được lập hồi năm 2006 bởi một sản phẩm sứ thời Khang Hy khác. Đó là một chiếc bình “Rồng” màu trắng xanh được bán với mức giá 22.52 triệu đô la Hồng Kông.
 
Hồng Kông nổi lên là một trong những trung tâm đấu giá lớn trên thế giới về các tác phẩm nghệ thuật. Điều này được cho là nhờ các đại gia mới nổi tại đại lục, những người có rất nhiều tiền và bắt đầu có sở thích về các loại đồ cổ xa xỉ.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Gốm sứ vẫn là mặt hàng xuất khẩu trong năm 2013

Gốm sứ vẫn là mặt hàng xuất khẩu trong năm 2013

Đó là chia sẻ của ông Lê Bá Ngọc, Tổng thư ký Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam về mặt hàng xuất khẩu trọng điểm của ngành trong năm 2013.
 
Ông Ngọc cũng cho biết, năm 2012 là năm ghi dấu những nỗ lực vượt bậc của các DN trong ngành. Với đặc thù là ngành xuất khẩu tới 90% sản phẩm, trong khi tình hình tại các thị trường nhập khẩu chính của ngành không hề khả quan, nhưng năm vừa qua, ngành thủ công mỹ nghệ vẫn đạt mức tăng trưởng 10% so với năm 2011, đạt 1,6 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu.
 
Gốm sứ và mây, tre, cói, thảm là hai nhóm hàng đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ trong năm qua. Theo đó, mặt hàng gốm sứ giữ vị trí số 1 khi đạt 431 triệu USD kim ngạch, tăng 12% so với cùng kỳ. Mặt hàng mây, tre, cói, thảm đứng ở vị trí thứ 2 với 211 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 10,5% so với cùng kỳ.
 
Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu sản phẩm gốm sứ lớn nhất của Việt Nam khi chiếm trên 16% tỷ trọng, đạt khoảng 65 triệu USD. Đài Loan là thị trường lớn thứ 2 với 13% tỷ trọng, đạt khoảng 51 triệu USD. Tiếp đến là một số thị trường như: Mỹ, Malaysia, Đức, Thái Lan, Hàn Quốc…
 
Theo ông Lê Bá Ngọc, không chỉ năm 2012 mặt hàng gốm sứ mới là điểm nhấn về kim ngạch xuất khẩu của ngành mà đây là truyền thống, là thế mạnh của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam khi gốm sứ luôn chiếm khoảng 40% tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của cả nước. Và “đây sẽ tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam trong năm 2013”, ông Lê Bá Ngọc khẳng định. Trong nhóm hàng gốm sứ xuất khẩu thì hàng gốm mỏng và gốm trang trí sân vườn của Việt Nam được các thị trường lớn như: Đài Loan, Mỹ, EU, Thụy Điển, Nga và đặc biệt là thị trường Nhật Bản ưa chuộng.
 
Bà Hà Thị Vinh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh (Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội) cho biết: Với đặc thù mỏng, nhẹ, kích thước nhỏ gọn, gốm mỏng luôn là lựa chọn hàng đầu của các nhà nhập khẩu, nhất là các nhà nhập khẩu đến từ Nhật Bản. Bản thân Quang Vinh không thiếu đơn hàng gốm mỏng. Ngay từ thời điểm cuối quý III của năm 2012, Quang Vinh đã nhận được các đơn đặt hàng cho hết quý II/2013. Mặc dù số lượng của mỗi đơn hàng không lớn nhưng trong bối cảnh chồng chất khó khăn từ phía các thị trường nhập khẩu thì đây thực sự là điều rất đáng mừng.
 
Tuy nhiên, Bà Vinh cũng khá lo lắng bởi cho dù ở thời điểm hiện tại dòng gốm mỏng đang chiếm ưu thế nhưng áp lực về mẫu mã, về giá cả… cũng đang là trở ngại lớn không chỉ cho Quang Vinh mà còn là khó khăn chung của các DN ngành gốm.
 
Giải thích rõ hơn về điều này, ông Lê Bá Ngọc cho biết, do mặt hàng gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam thuộc dòng sản phẩm trang trí, mà đã là sản phẩm trang trí thì vòng đời rất ngắn, nên đòi hỏi phải thường xuyên thay đổi mẫu mã. Trong khi đó, năng lực thiết kế mẫu mã của chúng ta còn rất hạn chế. Ngoài ra, tuy sản phẩm gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam độc đáo, mang tính nghệ thuật cao nhưng thường là đơn chiếc, lại sản xuất thủ công nên khả năng đáp ứng được đơn hàng lớn là rất khó.
 
Để khắc phục được những nhược điểm này, theo ông Ngọc, nhất thiết các DN trong ngành phải đầu tư thích đáng cho công nghệ sản xuất, cho khâu thiết kế, hạn chế dần sự phụ thuộc vào mẫu mã của nhà nhập khẩu. Đặc biệt, các DN cần phải nghiên cứu thị trường, cập nhật những quy định, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, nắm bắt xu hướng tiêu dùng… Có như thế mới tạo được tính “thời sự” cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm sứ xuất khẩu Việt Nam.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

 Ngày này có rất nhiều vật phẩm phong thủy giúp gia đình bạn được may mắn. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề chúng tôi đã tạo ra dòng sản phẩm Tượng sứ phong thủy mang thương hiệu Bát Tràng. Tượng sứ phong thủy là sản phẩm hoàn hảo được tạo bởi các nghệ nhân sứ Bát Tràng. Các nghệ nhân đã thổi hồn vào đó khiến các bức tượng trông rất thật và biểu cảm

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

 

 
Lòng mê nghề của ông chủ gốm sứ Minh Long

Lòng mê nghề của ông chủ gốm sứ Minh Long

Trong số nhiều tấm gương khởi nghiệp thành công, có người làm nên nhờ táo bạo trong kinh doanh, có người lại nhờ sự đam mê nghiên cứu đổi mới công nghệ. Lý Ngọc Minh tiêu biểu cho cả hai hình mẫu, và điều đáng nói là ông chưa từng qua trường lớp chính quy nào.
 
Khó có thể hình dung được những sản phẩm gốm sứ chất lượng cao nổi tiếng với doanh thu hàng nghìn tỷ đồng, đã chinh phục được nhiều thị trường trên thế giới, với một số tính năng vượt trội hơn cả sản phẩm của những hãng gốm sứ quốc tế danh tiếng hàng đầu, lại là kết quả của một quá trình mày mò tự nghiên cứu của một người chủ chưa từng qua đào tạo chính quy về gốm, và trình độ học vấn chưa qua lớp 4 trường làng. Ông hóm hỉnh gọi nhà máy của mình là trường học đại, vì “nơi đây toàn những người xuất phát không hiểu biết gì về công nghệ gốm sứ, cũng không qua trường lớp đào tạo chính quy về nghề này”.
 
Quyết tâm làm chủ công nghệ
 
“Tôi mê nghề chứ không quá ham chuyện kiếm tiền. Chính sự mê nghề đã tạo cho tôi bản lĩnh và sự bạo dạn, và cho phép mình đầu tư những khoản đầu tư lớn, dù có thể không đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn nhưng đem lại thành tựu kỹ thuật. Đối với tôi, thành tựu kỹ thuật quan trọng hơn thành tựu kinh tế”. 
    
Với xuất phát điểm từ chỗ thiếu cả kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức chuyên môn, ông Lý Ngọc Minh và những cộng sự của mình đã phải tự mày mò tìm hiểu, nghiên cứu, và học hỏi liên tục. Chính nhờ quá trình học hỏi liên tục mà hoạt động và kỹ thuật sản xuất của công ty không ngừng được cải tiến, nhiều công nghệ và thiết bị được công ty áp dụng và sửa đổi lại vừa phù hợp với ý muốn của mình, vừa giảm bớt sự phụ thuộc vào nước ngoài. 
 
Ví dụ như loại bột tạo phôi mà ở nước ngoài các công ty gốm sứ phải lấy nguồn cung cấp từ các nhà sản xuất chuyên trách, trong đó đòi hỏi máy móc hiện đại và kỹ thuật rất cao, nhưng Minh Long hoàn toàn tự chủ động sản xuất lấy. “Nếu nhập của nước ngoài thì thời gian chậm quá, không kịp phục vụ sản xuất, và mỗi khi cần thay đổi một loại đất nào đó thì lại gặp khó khăn. Mặc dù tự sản xuất thì cũng khá vất vả nhưng chi phí vẫn rẻ hơn, giúp tiết kiệm 30 - 50% so với nhập của nước ngoài”, ông Minh giải thích. 
 
Một ví dụ khác là các loại khuôn đặc chủng mà trước đây Minh Long bắt buộc phải nhập khẩu từ nước ngoài và gặp hạn chế là mỗi nhà máy của họ chỉ sản xuất được 100-200 chủng loại khuôn, trong khi Minh Long phải sản xuất tới cả nghìn chủng loại khác nhau nhằm đáp ứng đặc thù văn hóa người tiêu dùng của Việt Nam vốn luôn đòi hỏi sự phong phú về kiểu dáng, mẫu mã. Vì vậy, sau gần 10 năm từ học hỏi cách bố trí máy móc, thiết bị, phần mềm, huấn luyện tạo đội ngũ người làm, và liên tục cải tiến, Minh Long đã tạo ra được một quy trình sản xuất khuôn suôn sẻ, với giá thành chỉ bằng một phần tư giá nhập khẩu.   
 
Phần lớn các đổi mới công nghệ tại Minh Long chủ yếu do ban giám đốc nghiên cứu, khảo sát, từ đó đề ra những ý tưởng đổi mới, và tự tìm cách xử lý các vướng mắc”, ông Minh lý giải. Chẳng hạn như với công nghệ men chống bám dính, khi nghe nói trên thế giới có công nghệ men giúp gốm sứ không bám bẩn dầu mỡ, ông Lý Ngọc Minh và ban giám đốc đã tự tìm hiểu về nguyên lý chế ra men đạt tới kích thước nano để có độ bóng và chống bám dính như mong muốn, rồi cũng tự họ nghiên cứu tìm mua máy móc về sản xuất lấy. Những máy móc này, cũng như đa số các thiết bị nhập khẩu khác từ nước ngoài, khi nhập về Minh Long luôn tìm cách học cách tự cài đặt sử dụng để khi không có chuyên gia nước ngoài thì công ty vẫn có thể tự chủ được. “Kể cả khi một số linh kiện hư hỏng chúng tôi cũng tự chế tạo được để có thể sử dụng tạm thời khi chưa có linh kiện nhập thay thế”, ông Minh tự tin khẳng định. 
 
Màu và men: làm được điều thế giới chưa làm được
 
Từ khi mới xuất hiện, gốm sứ Minh Long đã nổi tiếng vì độ trắng bóng, và trong thời gian liên tục mười mấy năm những phẩm chất này vẫn liên tục được cải tiến nâng cao. “Tới nay, độ trắng bóng của gốm sứ Minh Long gần như đạt tới tuyệt đối”, ông Minh khẳng định. Theo ông, trong số hàng nghìn hãng gốm sứ trên thế giới, chỉ có khoảng năm hãng có chất lượng tương đương với Minh Long về độ trắng, độ bóng, độ cứng, và không có hãng nào, dù là của Đức, Pháp, hay Nhật, hơn được sản phẩm của Minh Long về các tiêu chí này. 
 
Bên cạnh đó, tất cả những hãng gốm nổi tiếng về kỹ thuật vẽ gốm bằng tay – như hãng Meissen của Đức và Herend của Hungary nổi tiếng về vẽ tay trên bình hoa, hay hãng Royal Copenhagen của Đan Mạch đứng đầu về vẽ tay trên chén, đĩa – đều phải dùng công nghệ truyền thống là nung sản phẩm ở nhiệt độ 800 – 850 độ C, trong khi công nghệ gốm vẽ tay của Minh Long cho phép nung sản phẩm tới nhiệt độ 1230 – 1250 độ C. Ông Minh khẳng định rằng sự vượt trội này về công nghệ khiến sản phẩm vẽ tay của Minh Long đứng xa thấy đẹp, lại gần thì mịn màng, sờ vào thấy mát, còn sản phẩm vẽ tay của nước ngoài có thể đứng xa thấy đẹp nhưng lại gần thấy màu men bị đục, sờ vào thấy cộm. Nhìn vào những sản phẩm này của nước ngoài không thể thấy chiều sâu của họa tiết, trong khi nhìn vào họa tiết của Minh Long dưới lớp men được nung ở nhiệt độ cao đem lại hiệu ứng ba chiều và độ sâu, tạo cảm giác sinh động hơn. 
 
Đồng thời, trên thế giới cũng chưa có hãng gốm nào có được một số màu sắc đặc biệt như sản phẩm của Minh Long khi nung ở nhiệt độ cao, ví dụ như màu đỏ sậm, hay màu xanh dương – để trong phòng thì là màu xanh thẫm, khi mang ra ngoài sáng thành tươi màu thiên thanh – mà ông Minh gọi là màu king blue. Với nhiệt độ nung tối đa là 850 độ C mà công nghệ chung của thế giới hiện nay đang áp dụng, khi sản phẩm tiếp xúc lâu với mưa, nắng, hoặc gặp môi trường khắc nghiệt như kiềm, mặn, hay chua (tiếp xúc với chanh, dấm) thì men có thể sẽ bị bong tróc hoặc phai mờ. Ngoài vấn đề về thẩm mỹ, điều này còn gây nguy hại cho người sử dụng, vì men chính là lớp bảo vệ ngăn chất độc – thông thường các sản phẩm màu đẹp, như các màu đỏ, vàng chanh, hay vàng cam, thì đều có cadmidium, hoặc một số sản phẩm gốm sứ của Trung Quốc dùng màu pha chì cũng rất độc hại nếu bị hỏng lớp men bảo vệ. Nhưng với sản phẩm của Minh Long, ông Minh khẳng định rằng lớp men bảo vệ sau khi trải qua nhiệt độ nung cao sẽ tồn tại được bền vững “hàng nghìn năm mà không gặp vấn đề gì”, và ngăn được chất độc tiết ra từ màu khi sản phẩm trong quá trình sử dụng tiếp xúc lâu với kiềm hay axit. Cũng nhờ bảo đảm an toàn như vậy nên sản phẩm của Minh Long dễ dàng vượt qua được các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật của những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản. 
 
Khi được hỏi vì sao các hãng làm gốm vẽ tay trên thế giới không nung được ở nhiệt độ cao như Minh Long, ông Minh nói: “Vì công nghệ của chúng tôi rất khó”. Khi gốm được nung ở nhiệt độ cao, men và màu cùng bị tan chảy và thay đổi về cấu trúc cũng như bước sóng ánh sáng khi nhìn vào, khiến hình ảnh và màu sắc cũng bị thay đổi không còn được như ý muốn ban đầu của người nghệ nhân. Ngoài ra, khi men nóng chảy thì màu vẽ bên dưới cũng có thể bị rung, nhòe, dịch chuyển, khiến nét vẽ bị biến đổi, ông nói. Tuy nhiên, ông không tiết lộ chi tiết bí quyết giúp Minh Long vượt qua những khó khăn kỹ thuật này. “Đơn giản là chúng tôi nắm vững và vận dụng một số kiến thức vật lý, và trong chừng mực nào đó biết cách làm ảo thuật– những nhà ảo thuật đều là những người giỏi vận dụng các kỹ thuật vật lý – để có thể đạt được những kết quả mà người khác không đạt được”.   
 
Linh tính và những may mắn tình cờ 
 
Nói về bí quyết thành công của bản thân, ông Minh khiêm tốn cho rằng mình là người gặp nhiều may mắn. Ông kể nhiều câu chuyện để chứng minh cho sự may mắn của mình. Một lần ông đóng vai là người đang tìm mua lò gốm vào tham quan một nhà máy sản xuất gốm ở châu Âu, kỳ thực là ngầm tìm cách học hỏi về cách bố trí máy móc của xưởng gốm. Nhưng người quản lý nhà máy hôm đó đoán được ý định của ông nên chỉ cho ông đứng xem lò chứ không cho tự do đi xem những nơi khác. “Tôi đứng đó hết một buổi mà không có cách gì khác, đành phải thất vọng đi về, trong lòng thầm nghĩ vậy là tốn sức vô ích, mất công chạy ô tô xa 3-4 trăm km mà đành về không.” Nhưng thật tình cờ, khi về trên con đường cao tốc nơi những chiếc xe đều phóng với tốc độ 150-170 km/giờ, một người quen đi ngược chiều, cũng chính là người bán lò cho ông Minh, đã nhận ra xe của ông và đánh xi nhan để hai bên dừng lại. Khi biết được nỗi thất vọng của ông, người bạn liền thuyết phục ông cùng quay lại nhà máy đó vào ngày hôm sau. “Khi chúng tôi quay lại thì người phụ trách hôm đó là người phó của vị quản lý hôm trước, và anh này vì không biết được ý đồ của tôi nên đã cho phép tôi đi lại tham quan tự do”. Nhờ cơ hội đó mà ông học hỏi được từ xưởng gốm đó những thông tin thiết yếu về bố trí thiết bị, hoàn toàn khớp với dây chuyền công nghệ mà Minh Long khi đó nhắm tới. 
 
Nhưng với những công nghệ cốt lõi bên trong – như về cấu trúc vật liệu hay những loại màu, men mới – là những điều không thể học lỏm được, thì ông bắt buộc phải đầu tư nghiên cứu, học hỏi qua sách vở và nhiều nguồn khác nhau. Trong quá trình đó, ông cũng nhận được những sự giúp đỡ hoàn toàn bất ngờ. Có những người bạn không làm nghề gốm, nhưng bỗng mang đến tặng cho ông những cuốn sách tư liệu hữu ích. Cũng chính là bạn bè đã giới thiệu về máy đo laze để ông nghiên cứu sử dụng thay thế cho cách đo cổ điển, từ khi loại thiết bị này còn rất mới và không mấy ai biết. “Khi mua máy đo laser, chúng tôi phải năn nỉ, thuyết minh rất nhiều họ mới tin là dùng cho sản xuất gốm sứ, và người bán máy bắt tôi cam kết không dùng vào mục đích quốc phòng”, ông Minh kể. 
 
Cũng có lúc sự may mắn của ông tình cờ đến mức lạ lùng, như lần ông tự mày mò chế được màu đỏ ô xít thiếc của Anh mà ông không thể tìm được trong sách vở vì nhà sản xuất giấu kín bí quyết. Đó là một lần làm việc cẩu thả, do nghiên cứu tìm tòi lâu ngày mà không ra nên ông mỏi mệt, lười không dọn dẹp phòng thí nghiệm. Tình cờ trong số các màu rơi vãi lẫn lộn chồng chéo vào nhau, ông linh cảm rằng một trong số đó chính là thứ màu ông hằng tìm kiếm, và linh tính của ông đã hoàn toàn đúng.
 
Ông Minh cho rằng yếu tố may mắn tình cờ là rất cần thiết trong mọi việc, kể cả trong công việc của những người làm khoa học và công nghệ. Nhưng điều quan trọng là làm sao nắm bắt được những cơ hội bất ngờ đó. “Người khác có thể cũng gặp tình huống tình cờ như tôi, nhưng điều khác biệt là tôi có linh tính để nắm bắt được”.

Vào sinh ra tử
 
Làm gốm tới mức đam mê như ông Lý Ngọc Minh thì cũng có cả những lần vào sinh ra tử. Ông kể cho chúng tôi về những chuyến đi lý thú nhưng cũng đầy bất trắc tới các mỏ đất, trong đó có hai lần suýt bỏ mạng khi một lần bị kẹt trong mưa rừng Phú Thọ giữa lúc chiều tối, và một lần đi đường 9 Nam Lào gặp đúng đoạn đèo bị sạt lở. Ông không chỉ tới các mỏ đất ở Việt Nam, mà lặn lội đến cả những mỏ đất lớn trên thế giới, tìm xuống những hầm mỏ đất sâu tới hàng trăm mét ở Trung Quốc, trong những chiếc lồng sắt không đèn đuốc mà mỗi lần đi xuống phải mất hàng 5-7 phút. “Vừa đi tôi vừa run, sợ rằng không may lồng bị đứt xuống thì biết làm sao”, ông vui vẻ kể lại.
 
Nhưng đối với ông, những chuyến đi đó chưa thể so được với ba lần “sinh tử”, khi ông cận kề cái chế trong gang tấc. Lần thứ nhất vào năm 1980, khi ông xây một hồ nước mấy trăm khối để lọc đất. Thời đó rất thiếu xi măng nên ông tiết kiệm, pha lẫn với vôi. Hậu quả là nước bị rò dưới chân. Chỉ giây lát sau khi ông xem xét chỗ rò và quyết định ngày hôm sau sẽ sửa lại, vừa bước đi được 5 m thì toàn bộ hồ đang đầy bị vỡ toang. “Nếu tôi ở gần hơn chắc chắn toàn bộ bức thành bể xây gạch dày 20 phân sẽ cuốn bay vào đầu”, ông kể. Lần thứ hai xảy ra khoảng một năm sau, vào thời kỳ Minh Long còn làm bộ trà phỏng theo hình trái măng cụt. Để ra màu măng cụt phải sử dụng men chảy, vì vậy phải dùng máy để mài những mẩu men rớt xuống chân đế sản phẩm. Thấy công nhân mài quá chậm ông đích thân thử làm nhằm tìm ra cách nhanh hơn hướng dẫn lại cho họ. Bánh đá mài thời đó phải dùng loại của Liên Xô, không được thẳng như của Nhật nên rất dễ bị rung. Khi ông vừa ngồi xuống thì nghe một tiếng nổ lớn như lựu đạn. Nhìn xuống tay thấy bình trà măng cụt vỡ nát, nhìn lên trên thấy một mảnh bánh đá mài bắn văng lên cắt đứt ngọt tấm mái tôn. Hai mảnh còn lại của chiếc bánh đá mài bay sát người của ông. Với tốc độ quay của bánh đá mài lên tới 2500 vòng/phút, nếu chúng văng vào người thì chắc chắn ông không thể tránh được và sẽ rất khó sống sót. Còn lần thứ ba xảy đến sau đó vài năm, khi ông ở trong phòng thí nghiệm mải mê nấu keo chế loại màu nhẹ lửa, đang tập trung cao độ nên sơ ý, để cho hai sợi dây điện âm – dương kẹp vào tay. “Tôi nghe như có tiếng pháo nổ và lửa đất trên đầu, miệng há ra mà không kêu được”, ông kể. Khi đó ông nghĩ thầm chắc chắn mình sẽ không thể thoát được, nhưng thật may mắn là sợi dây điện không đủ dài nên bị tuột ra theo cú ngã của ông. 
 
Ngoài những lần cận kề cái chết đó, còn không ít những lần biến cố xảy đến với xưởng gốm, như có lần phòng thí nghiệm của ông bùng cháy khắp nơi, khói bốc nghi ngút nhưng không hiểu sao lửa không bùng to và cuối cùng dập tắt được. Nhưng tất cả những hiểm nguy đó xảy ra không làm ông e ngại, chùn chân. Trái lại, “chúng xảy đến như để báo cho tôi biết rằng mình được phù trợ để làm được những việc lớn mà mình luôn theo đuổi”, ông nói.
 
Đắc nhân tâm
 
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm sứ - cả ông nội và cha đều theo nghiệp gốm – song chưa từng có ai đẩy được cơ nghiệp lên tới đỉnh cao như Lý Ngọc Minh, do ông không dễ dàng thỏa mãn với những gì làm được mà luôn đặt ra mục tiêu hướng tới cho doanh nghiệp, cả trước mắt và lâu dài. Trước mắt là tìm cách cải tiến sản xuất để có thể hạ thấp chi phí, tạo ra được mức giá đủ thấp giúp công ty trụ vững qua thời kỳ khó khăn chung về kinh tế, và hướng tới mục tiêu rút ngắn quy trình sản xuất để từ hòn đất ra tới sản phẩm chỉ mất 24 tiếng đồng hồ thay vì hàng tuần lễ như hiện nay. Xa hơn là tạo ra những sản phẩm mới có tính đột phá về kỹ thuật, không chỉ thuần túy phục vụ tiêu dùng mà sẽ có cả những sản phẩm phục vụ các ngành công nghiệp. “Chúng tôi sẽ tạo tiền đề để thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp kế tiếp thực hiện được bước phát triển này trong tương lai”, ông nói.
 
Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đề ra, theo ông Minh phải thực hiện tốt nguyên tắc quyền lợi người lao động gắn liền với quyền lợi của doanh nghiệp, đồng thời phải truyền được cảm hứng và nhiệt huyết từ người chủ doanh nghiệp tới mọi người lao động, hay nói cách khác là khả năng thu phục nhân tâm. “Quan hệ giữa tôi với công nhân vừa là chủ thợ, vừa là thầy trò, vừa là anh em”, ông nói. 
 
Khi cùng ông Minh đi tham quan nhà máy, chúng tôi thấy ông vừa giới thiệu từng chi tiết dây chuyền công nghệ, vừa liên tục dừng lại trao đổi công việc với mọi người ở mọi cấp bậc, từ thấp tới cao, với tâm thế ôn hòa, cẩn trọng, và hết sức giản dị. Trong ánh mắt những người nhân viên chúng tôi thấy sự tin tưởng và yên tâm thoải mái, hoàn toàn không có sự xa cách. Không chỉ những người công nhân, mà tất cả mọi người từng tiếp xúc với ông Minh đều tìm thấy ở ông sự bình dị nhưng không sơ sài, luôn chu đáo với mọi người. Và có lẽ đó là lý do nhiều người chỉ một lần tiếp xúc đã tìm cách giúp đỡ ông một cách hoàn toàn vô tư. Ông kể với chúng tôi rằng năm 1987, trong dịp đi Đức dự một hội chợ ở Leipzig, anh tham tán thương mại của sứ quán Việt Nam khi nghe ông nói chuyện, bày tỏ mong muốn được đi tham quan một nhà máy làm sứ cách điện, đã ngay lập tức đồng ý giúp đỡ. Ông còn nhớ rằng đêm hôm ấy hai người phải dậy từ 3 giờ sáng, ra đường giữa cái rét 0 độ C, và đi xe lửa mất 3 tiếng đồng hồ. Nhưng thật đáng tiếc sau đó hai người bị thất lạc liên lạc, và đây là điều mà đến bây giờ ông vẫn còn cảm thấy áy náy.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Giới sưu tầm cổ vật và những ai quan tâm cổ ngoạn, đều từng nghe qua bộ sưu tập Dương - Hà. Nhưng phải đến khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM công bố những thông tin mới, cụ thể hơn, người ta mới giật mình vì giá trị rất lớn của nó. 
 
Diện kiến chỉ một phần nhỏ bộ sưu tập, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM (2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1), kéo dài sau Tết Quý Tỵ, cũng đủ cho một hình dung về tầm mức của bộ sưu tập và một mường tượng rằng báu vật trong dân gian chưa được biết hết còn lớn đến mức nào.
 
Những thông tin ngắn gọn “giản dị” về bộ sưu tập Dương - Hà: số lượng: 3.360 hiện vật, niên đại: khoảng 2.500 năm trước đến đầu thế kỷ XX, nguồn gốc: từ Á sang Âu, giá trị: vô giá. TS Phạm Hữu Công, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử chỉ vào cuốn danh mục dày gần gang tay liệt kê hiện vật trong bộ sưu tập: “Nếu giới thiệu đầy đủ về bộ sưu tập, phải mất cả tuần hoặc hơn nữa. Hội đồng thẩm định chưa có thời gian để thẩm định vì quá nhiều”.
 
Ngay cả khi “sờ” đến, cũng có một số món mà các nhà khoa học thừa nhận là “hóc búa”, chưa nhận diện được lai lịch, như một hiện vật lạ mới chỉ được biết là của quân đội Nhật Bản thời kỳ đánh nhau ở Đông Dương... Bộ sưu tập có nhiều tiêu bản lạ lùng, quý hiếm, gồm nhiều chất liệu, xuất xứ, thể hiện đa dạng phong phú các đề tài sinh hoạt, tín ngưỡng, trang trí, phục vụ các thú thưởng ngoạn… Trong số này có bộ câu đối cảnh vật, hình người hóa chữ, là bộ thứ hai được biết đến ở Việt Nam; bộ sưu tập ngọc - ngà; gốm Nam Bộ; gốm Nhật; khoảng 400 món đồ sứ đề tài long ẩn… 
 
Giá trị của bộ sưu tập đã gây chú ý cho các nhà nghiên cứu nước ngoài. Trong quá trình thực hiện cuốn sách Vietnamese Ceramics - A Separate Tadition (Gốm Việt Nam - một truyền thống biệt lập), hai nhà nghiên cứu cổ vật người Anh John Stevenson và John Guy là hai trong số những người đầu tiên được tiếp cận bộ sưu tập vào những năm 1996 - 1997. Gia sản này khi đó được người con gái Dương Quỳnh Hoa (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam) cùng chồng là ông Huỳnh Văn Nghị quản lý. Một số món cổ vật gốm ấn tượng trích từ bộ sưu tập đã được giới thiệu trân trọng trong cuốn sách. 
 
Bộ sưu tập mang họ của đôi vợ chồng trí thức Nam Bộ, Dương Minh Thới (1899 - 1976) và Hà Thị Ngọc (1902 - 1979) này, cùng với bộ sưu tập của học giả Vương Hồng Sển, được các nhà nghiên cứu đánh giá là đã góp phần truyền bá tình yêu cổ vật, cổ vũ phong trào tìm hiểu và sưu tầm đồ cổ ở miền Nam những năm 60 - 70 thế kỷ trước, đồng thời chống lại việc chảy máu cổ vật ra nước ngoài. 849 món đồ cổ của cụ Vương đã được hiến tặng cho Nhà nước, Bảo tàng Lịch sử tiếp nhận năm 1997, và nay bộ sưu tập Dương - Hà cũng được đơn vị này bảo quản. 
 
Trong vòng 15 năm, có hai bộ sưu tập “khủng”, tài sản văn hóa lớn, giá trị kinh tế cao được người dân hiến tặng cho Nhà nước, là một kỷ lục của TP.HCM. Bên cạnh đó, còn có hình thức khác là những cuộc triển lãm với hiện vật do các nhà sưu tập tư nhân cho mượn. Những lần trưng bày này luôn có hiện vật mới, độc đáo xuất hiện gây bất ngờ ngay cả với người trong giới. Điều này nói lên thực tế, ngoài hai thương hiệu lớn Dương - Hà và Vương Hồng Sển, trong dân gian còn nhiều nhân vật “ẩn dật” khác, với những bộ đồ cổ nếu không quy mô về số lượng thì cũng độc đáo, quý hiếm về chất.
 
Một phần bộ sưu tập Dương-Hà, gồm 508 tiêu bản được rút từ bộ sưu tập cổ vật đồ sộ, gồm 3.360 hiện vật, với nhiều chất liệu, xuất xứ từ nhiều quốc gia châu Á, châu Âu, có niên đại từ thời Tiền-Sơ đến đầu thế kỷ 20, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM (số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q.1, TP.HCM) từ cuối tháng 12/2012 đến qua Tết Quý Tỵ 2013.
 
Ông Phạm Hữu Công, đồng thời là ủy viên Hội đồng giám định cổ vật Sở VH,TT&DL TP.HCM nói: “Tôi quen biết nhiều nhà sưu tầm cổ vật tư nhân, nhưng cũng không biết có còn ai sở hữu bộ sưu tập cỡ như bộ Dương - Hà không”. Số lượng các nhà sưu tập tư nhân tại TP.HCM hiện rất đông đảo với nhiều nhánh sưu tầm phong phú, đa dạng về niên đại, chất liệu, xuất xứ. Ngoài Hội Cổ vật TP.HCM với gần 100 thành viên, Chi hội Di sản văn hóa gốm Nam Bộ với gần 70 hội viên, trong đó có nhiều nhân vật tên tuổi, còn có nhiều tay chơi đồ cổ tự do đang hoạt động âm thầm trong dòng chảy riêng của mình. 
 
Trong lúc các nhà sưu tập thận trọng trong việc thành lập bảo tàng tư nhân vì nhiều lý do như thiếu mặt bằng, kinh phí, an ninh…, còn việc hiến tặng cho Nhà nước khối tài sản tích cóp cả đời không phải ai cũng có thể làm được, thì những cái bắt tay giữa Nhà nước với tư nhân là một cách hay mà hai bên cần nghĩ đến thường xuyên. Đó là lối để những di vật của người xưa đến được với nhiều người nay, để hiểu thêm rằng đây không phải là khu vực xa lạ với những câu chuyện khô khan về bao món đồ cũ rích.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
 
Bạn đang xem:Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất
9.1/10 -  12 bình chọn
Trang chủ
Gốm sứ nội thất
Tranh ốp tường, trang trí

Cơ sở sản xuất Nội Thất Thời Nay

Hotline: 0979 892 690
Email: sales.noithatthoinay@gmail.com

Địa chỉ Cơ sở 1:   Số 14, ngõ 59, phố Nam Dư, Lĩnh Nam, Hà Nội

              Cơ sở 2:   Số 4, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội

Copyright © 2012. Thiết kế bởi noithatthoinay.com

LiveZilla Live Help
Text Link:YH:dungnt_23121988 : ||| sửa chữa cửa cuốn , sửa cửa cuốn , máy sấy tay , máy sấy tay Panasonic , máy đánh giầy , máy đánh giầy Shiny , máy đánh giầy Silroad , xe đẩy hàng , xe đẩy hàng Phong Thạch , xe đẩy hàng Prestar Japan ,