Logo
 
Hotline: 0934 231 288
Banner Sub 1
KHÔNG GIAN NỘI THẤT GỐM SỨ
Mr. Dũng Kinh doanh: Mr. Dũng Mr. Dũng Kỹ thuật: Mr. Dũng

Sưu tập gốm cổ Việt Nam

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885.

Xem tiếp
Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Giới sưu tầm cổ vật và những ai quan tâm cổ ngoạn, đều từng nghe qua bộ sưu tập Dương - Hà. Nhưng phải đến khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM...

Xem tiếp
Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Các di vật, cổ vật được trưng bày gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... từ đầu Công nguyên đến các triều đại Lý, Trần, Lê.

Xem tiếp
Trang

Bài viết tiêu điểm

Bạch Thổ phường thời Lý - Làng Bát Tràng thời nay

Bạch Thổ phường thời Lý - Làng Bát Tràng thời nay

Bạch Thổ phường (phường Đất sét trắng) là tên gọi đầu tiên của Bát Tràng vào thời sơ khai khi người dân theo vua Lý Công Uẩn di cư ra đây khai hoang, làm gốm. Cùng với biến thiên của lịch sử, Bát Tràng trải qua nhiều tên gọi khác nhau nhưng nghề gốm thì không ngừng phát triển.
 
Ra đời từ lâu nên người làng gốm cổ đã có kinh nghiệm truyền đời. Đáp ứng nhu cầu của thị trường, chợ gốm Bát Tràng hình thành mấy năm trở lại đây đã bày bán  nhiều hàng hóa thông dụng bằng gốm sứ, thu hút đông đảo du khách thập phương ghé thăm và mua hàng.
 
Chợ gốm Bát Tràng luôn mới lạ và hấp dẫn người mua bởi sự tinh tế và tài nghệ của những người thợ làng nghề. Từ men lam, men trắng truyền thống, người ta chế ra những màu men mới mang phong cách hiện đại như men rạn, men kem, men kết tinh, thậm chí kết hợp với cả những chất liệu khác như sơn mài…
 
Các hoạ tiết như đào, cúc, trúc, mai hay chim muông, cây cỏ làm bừng lên sắc xuân tự nhiên cho những lọ hoa, chén đĩa quen thuộc. Chính những món đồ đơn giản ấy lại góp phần làm cho không khí  tết  ở mỗi gia đình Việt thêm ấm cúng hơn.
 
Ngày tết, đồ gốm sứ là một trong những mặt hàng được ưa chuộng để sử dụng cho gia đình hay đem biếu. Bởi vậy, các xưởng gốm sứ chuyên làm đồ gia dụng ở Bát Tràng như Phúc Thanh, Bảo Quang, Cường Huệ … cũng tất bật hơn với công việc sản xuất.
 
Gần Tết, các sạp hàng ở chợ gốm Bát Tràng phong phú với nhiều mặt hàng như:  Lọ hoa, bình cắm đào, khay đựng mứt kẹo, chậu cảnh và nhiều đồ trang trí. Không khí mua sắm trong chợ luôn rộn ràng, tấp nập, mang đến cho cả người mua và người bán niềm vui háo hức chờ đón một năm mới với nhiều tài, lộc.
 
Đến chợ gốm Bát Tràng trước Tết hay sau Tết đều có cái hay riêng. Trước Tết, du khách đến chợ thường mua một vài món đồ về làm quà hay sử dụng trong gia đình; sau Tết, họ đến để thưởng ngoạn sắc xuân trong từng sản phẩm gốm được bày bán ở chợ.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Làng gốm cổ Bồ Bát

Làng gốm cổ Bồ Bát

Trăm năm qua, gốm Bát Tràng đã là một "thương hiệu" nổi tiếng từ Bắc vào Nam và tiếng tăm còn vượt cả ra ngoài biên giới. Gốm Bát Tràng hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của mỗi gia đình, gốm Bát Tràng đi vào thơ ca, ca dao, tục ngữ...
 
Ấy thế nhưng, cũng trăm năm qua, gốm Bồ Bát lại là một cái tên bị lãng quên. Nếu muốn tìm hiểu thông tin về tên của làng gốm này, chỉ có một kết quả duy nhất: Đó là "tổ nghề" của làng gốm Bát Tràng.
 
Tuy nhiên, cũng chỉ một kết quả này cũng đã đủ sức nặng để khẳng định vị trí của làng gốm Bồ Bát. Và khi tôi cất công xuống tận làng gốm, lân la trò chuyện với những cụ cao niên trong làng, cùng lần giở lại những tài liệu còn ghi lại về làng... thì những khám phá về ngôi làng "tổ nghề" này càng thôi thúc tôi phải viết... 
 
Làng nghề gốm nổi tiếng đất Cố đô xưa
 
Làng gốm Bồ Bát xưa, nay là làng Bạch Liên, thuộc xã Yên Thành, huyện Yên Mô (Ninh Bình). Theo sử sách ghi lại, làng gốm Bồ Bát (thời đó thuộc phủ Trường Yên) đã nổi danh từ cách đây hàng ngàn năm với những sản phẩm gốm sắc trắng độc đáo, cũng như những sản phẩm gốm sứ phục vụ xây dựng. Điều này đã được xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc đã được tìm thấy rất nhiều ở vùng này. Thời Lý - Trần, những người thợ tài hoa của làng đã sáng tạo ra những sản phẩm cao cấp như gạch đất nung “Đại Việt quốc quân thành chuyên” - loại gạch chuyên dùng để xây thành. Bên cạnh đó là những sản phẩm gốm tinh xảo như đầu rồng, mặt linh thú, bát đĩa, đồ gia dụng... Theo người dân trong làng, rất nhiều những di vật này đã được tìm thấy khi khai quật khảo cổ tại khu vực đền Vua Đinh, Vua Lê (Ninh Bình).
 
Theo người dân nơi đây kể lại, năm 1010, khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, hàng loạt các nghệ nhân tại làng nghề Bồ Bát đã theo triều đình về đất Thăng Long xây dựng kinh đô mới, sản xuất các sản phẩm gốm sứ phục vụ triều đình và dân sinh. Những nghệ nhân này đã đến định cư tại vùng đất ven sông Hồng, nơi có đất sét tốt để sản xuất gốm sứ và thành lập nên làng nghề Bát Tràng ngày nay. Sau khi những nghệ nhân giỏi theo triều đình rời ra đất Thăng Long lập phường làm gốm mới, người dân Bồ Bát không còn giữ được nghề truyền thống, dần dần những người ở lại chủ yếu cấy lúa, làm ruộng để sinh sống và lãng quên đi cái nghề từng hưng thịnh một thời. Nghề gốm sứ ở Bồ Bát đã bị “thất truyền” từ đó. 
 
Hành trình khôi phục nghề gốm Bồ Bát
 
Theo sự giới thiệu của bà con xã Yên Thành, tôi tìm về làng Bạch Liên để gặp nghệ nhân Phạm Văn Vang, chàng thanh niên mới 31 tuổi nhưng anh là người đầu tiên và hiện cũng mới là người mở xưởng gốm duy nhất ở làng này. Với thương hiệu gốm Bồ Bát mà chính bàn tay anh đã dày công gây dựng lại, trong suốt 10 năm qua, anh đã tự mình đi tìm hiểu, xin học lại nghề cũ của làng Bồ Bát xưa về mở lò gốm tại quê hương và nhiệt tình truyền dạy nghề cho người trong làng với mong muốn cháy bỏng là khôi phục lại được nghề gốm đã từng mang lại tiếng thơm cho làng. Cùng chung sức với quyết tâm của anh Vang, người dân làng Bạch Liên, xã Yên Thành đang dần dần khôi phục lại nghề làm gốm đã bị thất truyền. Ở tuổi 31, anh Vang đã nổi danh là chủ một lò gốm mang thương hiệu gốm Bồ Bát được xây dựng ngay trên mảnh đất của cha ông để lại.
 
Tới xưởng của gia đình anh Vang, tôi hơi bất ngờ với những gì mà một chàng trai trẻ đã làm được. Một khu mái lợp tôn rộng hơn 300 mét vuông với hơn 20 thợ là quy mô xưởng sản xuất gốm hiện tại của anh. Không khí làm việc rộn ràng khi thợ đang xếp các sản phẩm gốm mỹ nghệ và ấm chén, bát đĩa đóng thùng để chuẩn bị mang đi dự hội chợ triển lãm ở Tây Nguyên. Ngoài những sản phẩm chính là gốm mỹ nghệ như chuông gió, vòng cổ bằng gốm, các sản phẩm như lọ hoa, ấm chén, bát, đĩa với đa dạng hình dáng, các màu men được chế tác khá tinh xảo, đặc biệt là các họa tiết trang trí nghiêng về các mẫu họa tiết truyền thống tinh tế thể hiện bàn tay tài hoa của các nghệ nhân ở vùng đất có gốc làm nghề.
 
Nước da ngăm ngăm, trông anh Vang già hơn so với cái tuổi 31 của mình, nhìn anh, người ta hình dung ra ngay "vị cứu tinh" của gốm Bồ Bát này đang theo đuổi một cuộc hành trình phải trải qua rất nhiều khó khăn, gian nan. Được phóng viên về thăm cơ sở làm gốm và tìm hiểu về gốm Bồ Bát, anh Vang vui mừng bộc bạch với tôi về những ngày đầu học nghề, khi những sản phẩm gốm mang tên Bồ Bát đầu tiên ra đời và mong muốn khôi phục lại làng nghề như xưa.
 
Anh kể, anh vốn là một người con của dòng họ Phạm, một dòng họ đang sinh sống và làm gốm tại Bát Tràng. Hằng năm, người họ Phạm và các họ khác ở Bát Tràng vẫn về làng Bạch Liên để ăn giỗ tổ, trong những dịp hội ngộ, các nghệ nhân đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm làm nghề, ôn lại lịch sử của tổ nghề. Tự hào khi nghe những chia sẻ của các nghệ nhân trong họ, luôn mang trong đầu câu hỏi tại sao làng mình có rất nhiều nghệ nhân giỏi như thế mà lại bị thất truyền? Cậu bé Vang ngay từ khi còn là học trò đã say mê với những điều các bậc tiền bối kể, nên đã sớm ấp ủ ý định theo nghề làm gốm, sau này sẽ khôi phục lại gốm Bồ Bát. Năm 2001, sau khi học xong phổ thông, anh Vang đã khăn gói ra Bát Tràng để trực tiếp gặp các nghệ nhân xin học lại nghề cũ của làng Bồ Bát xưa.
 
Được sự tận tình hướng dẫn của các nghệ nhân, sau 3 năm miệt mài học và làm nghề, anh Vang đã thuê lò riêng ngay tại Bát Tràng và tự chế tác các sản phẩm để mang đi bán thử xem sao. Với các sản phẩm đầu tay nho nhỏ, chủ yếu là đồ trang sức mỹ nghệ như chuông gió, tranh gốm, và một số bát, đĩa, ấm chén... mang thương hiệu gốm Bồ Bát, anh tự mình mang đi giới thiệu ở thị trường TP Hồ Chí Minh. Hai năm lăn lộn trên thị trường đã cho anh rất nhiều kinh nghiệm, có những khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi nhưng chính điều đó lại càng làm cho anh thêm quyết tâm khi luôn đau đáu nghĩ về nghề truyền thống đã mất của làng mình. Anh chia sẻ: “Thời gian mang sản phẩm đi giới thiệu ở thị trường TP Hồ Chí Minh là giai đoạn khó khăn nhất. Một thương hiệu chưa từng ai biết tới không hề đơn giản để được tiếp nhận. Có lúc tôi phải xin vào làm chân dọn dẹp cho các siêu thị hay cửa hàng để được gửi sản phẩm để giới thiệu". Khó khăn đến như vậy, nhưng nhờ sự chịu khó chịu khổ và quyết tâm, trong 2 năm lăn lộn vừa chế tác, vừa đi giới thiệu sản phẩm, anh Vang đã được 150 địa điểm ở TP.HCM hợp đồng mua hàng và cho thuê địa điểm để giới thiệu sản phẩm gốm Bồ Bát.
 
Có thị trường tiêu thụ, khi cảm thấy đã "hòm hòm", năm 2006 anh mới trở về làng Bạch Liên để mở lò sản xuất gốm, lại bắt đầu một giai đoạn khó khăn mới. Mang những kinh nghiệm đã học hỏi được sau 5 năm vừa học, vừa làm, vừa đi giới thiệu sản phẩm, anh cùng người vợ trẻ vay vốn, mở lò gốm ngay trên mảnh đất của gia đình với thương hiệu gốm Bồ Bát.
 
Trong khi hầu hết các làng gốm trong nước đều đang sản xuất đồ gốm sứ gia dụng, gốm Bồ Bát bắt đầu "khởi động lại" với việc làm đồ gốm trang sức, tranh gốm mỹ thuật. Với hai dòng gốm sành nâu và gốm sứ trắng, các sản phẩm đồ trang sức của Vang chủ yếu là vòng cổ, vòng tay, chuông gió, dây lưng, tranh gốm mỹ nghệ và tượng gốm nghệ thuật, được trang trí bằng những họa tiết thổ cẩm, hoa văn chủ yếu là vẽ bằng men màu rất độc đáo. Anh mang ra "khoe" với tôi một bộ ấm chén và lọ trà được chế tác theo dòng gốm sành nâu, là một sản phẩm do chính tay anh sáng tạo ra. Từ chất men màu đất đến độ mịn và các họa tiết ấn tượng cho thấy một bàn tay tài hoa không kém những nghệ nhân lành nghề Bát Tràng. Anh Vang tâm sự: "Làm gốm mỹ thuật hay đồ trang sức chỉ là điểm khởi đầu để đưa thương hiệu làng nghề dễ dàng đến được với nhiều vùng miền. Sắp tới gốm Bồ Bát muốn tạo nét riêng bằng việc tự chế tạo men, nhất là dòng gốm sắc trắng đã từng một thời mang lại tiếng tăm, đặc biệt là đưa các hoa văn, họa tiết liên quan tới các giá trị lịch sử của mảnh đất cố đô vào các sản phẩm để tạo nét riêng cho gốm Bồ Bát".
 
Những phấn đấu không mệt mỏi của anh Vang đã mang đến cho gốm Bồ Bát những thành công nhất định khi năm 2008, anh là người đầu tiên đã mang sản phẩm gốm Bồ Bát đến giới thiệu tại triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ ở Hà Nội. Rất nhiều người đã bất ngờ khi biết về một dòng gốm đã thất truyền. Đặc biệt là trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, gốm Bồ Bát cũng đã có mặt trong triển lãm sản phẩm các làng nghề cổ truyền.
 
Bây giờ, tới xưởng của Vang, nhìn các nghệ nhân trẻ tuổi miệt mài vẽ các họa tiết lên sản phẩm, hay nhào nặn đất... đã thấy khí thế của một làng nghề đang dần quay trở lại, dù còn nhiều khó khăn trước mắt. Vậy là tâm huyết của chàng thanh niên trẻ tuổi Phạm Văn Vang và người dân làng Bạch Liên đã làm sống lại và đỏ lửa lò gốm cổ đã nguội tắt từ cách đây hàng trăm năm, sống lại thương hiệu gốm Bồ Bát.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà

Đây không phải là lựa chọn số một về sự sắp đặt trưng bày sưu tập ấm trà , tuy nhiên kệ gổ thiết kế thích hợp sẻ tôn lên giá trị vật trưng bày và thu hút khách thưởng ngoạn. Kiểu thức trang trí này dường như phù hợp với nội thất phương Đông.
 
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
Kệ trưng bày bộ sưu tập ấm trà
 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Chiếc bát sứ quý hiếm thời Khang Hy

Chiếc bát sứ quý hiếm thời Khang Hy

Một chiếc bát sứ đỏ họa tiết hoa sen quý hiếm có từ đời vua Khang Hy- Trung Quốc, giai đoạn 1662-1722 vừa được bán với mức giá kinh ngạc 9.1 triệu đô la Mỹ ( tương đương gần 190 tỷ đồng) trong một cuộc mua bán tại Hồng Kông.
 
Với mức giá 74 triệu đô la Hồng Kông (tương đương 9.1 triệu đô la Mỹ) đây được coi như một kỷ lục thế giới mới đối với các sản phẩm sứ Trung Quốc đời vua Khang Hy (thuộc triều đại Nhà Thanh) sau khi được một công ty tại Hồng Kông mua lại từ tổ chức đấu giá Sotheby.
 
Chiếc bát chạm khảm tráng men được trang trí với màu hồng, vàng và màu xanh của lá sen đã gây chú ý lập tức tại buổi đấu giá. Chiếc bát ban đầu được dự kiến sẽ đạt mức giá 70 triệu đô la Hồng Kông, nhưng đã đạt được mứa giá 74 triệu đô la Hồng Kông.
 
Người bán đấu giá cho biết, chiếc bát đã phá vỡ kỷ lục được lập hồi năm 2006 bởi một sản phẩm sứ thời Khang Hy khác. Đó là một chiếc bình “Rồng” màu trắng xanh được bán với mức giá 22.52 triệu đô la Hồng Kông.
 
Hồng Kông nổi lên là một trong những trung tâm đấu giá lớn trên thế giới về các tác phẩm nghệ thuật. Điều này được cho là nhờ các đại gia mới nổi tại đại lục, những người có rất nhiều tiền và bắt đầu có sở thích về các loại đồ cổ xa xỉ.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Cùng với gốm Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu... nổi tiếng của khu vực phía Bắc, làng gốm Trù Sơn (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) là một trong những “cái nôi” về gốm nổi tiếng ở khu vực Bắc Trung bộ. Nhưng hiện nay, gốm Trù Sơn đang đứng trước nguy cơ mai một, vì không tìm được đầu ra, chưa được sự quan tâm và đầu tư thích đáng...
 
Ở Trù Sơn hiện nay, những phụ nữ tầm tuổi sinh khoảng 1954 - 1970 vừa là “bà chủ” vừa là thợ chính, còn những phụ nữ sinh trước 1954 do điều kiện và sức khỏe nên đi làm giúp và truyền lại nghề. Gọi là truyền nghề, nhưng thực chất là truyền cho những người đã... biết rồi, còn lứa tuổi sinh từ sau năm 1970 không mấy ai tập làm nghề này nữa, thế hệ trẻ sau này càng không có người.
 
Chúng tôi vào xóm 11, chỉ thấy chị Nguyễn Thị Hồng lủi thủi ngồi “vắt” đất nặn nồi một mình. để có được sản phẩm gốm, chồng chị Hồng phải sang xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) đào đất sét chở về, sau đó phải đạp đất cho nhuyễn, lọc sạn, cắt... “vắt” rồi nặn. Sau công đoạn nặn là đem phơi nắng cho khô và cuối cùng bỏ lò nung 4 - 5 giờ, tùy theo sản phẩm có được nắng hay không. Đó là chưa kể công đem đi “rao khắp nơi” bán hàng.
 
Chị Hồng tâm sự rằng làm nghề này “ức” nhất là phơi sản phẩm gặp trời mưa. Có bữa đang ăn cơm, mưa bất ngờ đổ xuống, chạy ra “cứu” được “hắn”, quay vô nhà thì bữa cơm đã bị chó, mèo “ăn tan”. Cực vậy, nhưng sản phẩm làm ra, cũng chỉ được từ 4.000 đồng/cái cho đến tầm 10.000 đồng, 25.000 đồng/cái... (bán tại chỗ). Nếu muốn bán được giá thì phải chở vào TP Vinh, Hà Tĩnh, ra Thanh Hóa, Ninh Bình... 
 
Về Trù Sơn hôm nay, nếu không được biết trước sẽ khó có thể nhận ra nơi đây có một làng nghề làm đồ gốm. Các dấu tích của làng nghề đã bị che khuất bởi nhà cửa, tường rào... Anh Nguyễn Hữu Lịch, Phó Chủ tịch UBND xã Trù Sơn cho biết, trước đây, việc làm nghề gần như quanh năm, rộ lên vào 3 tháng áp tết. Nhưng sau này, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cơ chế thị trường, nghề không còn hợp với lớp người trẻ, vốn ít, thu nhập từ nghề thấp... nên nghề chỉ còn chủ yếu ở xóm 10 và 11 với khoảng 40 hộ làm thường xuyên.
 
Theo đánh giá, trong khi gốm Hải Dương đa dạng, hình thức đẹp, được tráng men... thì gốm Trù Sơn còn đơn giản, làm bằng phương pháp thủ công, không tráng men, chỉ có màu đất. Nhưng có lẽ, chính vì “chỉ có màu đất” nên gốm Trù Sơn có nét đặc trưng riêng. Đất làm gốm được lấy chủ yếu từ xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc), hoặc xa hơn nữa tận xã Sơn Thành (huyện Yên Thành). Đây là loại đất sét mịn, khá “trong”, ít cợn... Thông thường, khi được đào sâu xuống tầm 1m thì mới có loại đất cần tìm, đó là đất sét trắng.
 
Nhưng điều đặc biệt là từ màu trắng này, sau khi được nung lên qua lửa đỏ thì sẽ cho ra màu đỏ - hồng như màu bình minh rất đẹp. “Người ta thì “cô” vàng, còn người quê tui “cô” mồ hôi” - anh Lịch ví von. Chính vì nghề “bạc” nên hiện không mấy ai muốn theo nghề. Nhiều nhiệm kỳ xã đã đưa vấn đề phát triển làng nghề vào nghị quyết, nhưng đến nay vẫn chưa đâu vào đâu. 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Các di vật, cổ vật được trưng bày gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... từ đầu Công nguyên đến các triều đại Lý, Trần, Lê.
 
Ngày 16/2, tại Bảo tàng tỉnh Nam Định, Hội cổ vật Thiên Trường phối hợp với Câu lạc bộ UNESCO nghiên cứu, sưu tầm cổ vật Việt Nam đã tổ chức trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật mừng Xuân Quý Tỵ 2013.
 
Các di vật, cổ vật được trưng bày lần này chủ yếu gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... có niên đại từ đầu Công nguyên đến các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê. Đây là một trong các hoạt động mở đầu cho Năm du lịch Quốc gia đồng bằng sông Hồng gắn liền với phiên chợ Viềng xuân của tỉnh Nam Định; đồng thời cũng là dịp để những người yêu thích, đam mê và muốn tìm hiểu về các di vật, cổ vật trên cả nước có điều kiện được tìm hiểu, giao lưu, trao đổi kiến thức.
 
Nhân dịp này, Hội cổ vật Thiên Trường hiến tặng cho Bảo tàng tỉnh Nam Định hai bức sắc phong thời Nguyễn và bốn cổ vật gốm thời Lý, Trần. Trưng bày cổ vật đầu năm là một trong những hoạt động thường niên của Hội cổ vật Thiên Trường nhằm suy tầm, quảng bá, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc./.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Phục dựng dòng gốm Chu Đậu

Phục dựng dòng gốm Chu Đậu

Trong dân gian truyền miệng “Sứ nhất sứ Giang Tây, Gốm nhất gốm Chu Đậu” đủ thấy dòng gốm này được đánh giá cao đến mức nào. Phát triển rực rỡ trong suốt thời Lý – Trần – Lê – Mạc (thế kỷ XV-XVII) nhưng do những biến cố của lịch sử dòng gốm Chu Đậu - tuyệt đỉnh của Gốm cổ Việt Nam - bị thất truyền hơn 500 năm qua.
 
Lai lịch dòng gốm cổ
 
Làng Chu Đậu là một vùng quê yên ả bên tả ngạn sông Thái Bình, từ lâu nổi tiếng về nghề dệt chiếu. Nhắc đến “chiếu Đậu” thì người Bắc nào cũng biết. Nhưng nói về gốm Chu Đậu thì hầu như chẳng ai biết gì, bởi suốt nhiều thế kỷ qua, nghề gốm Chu Đậu đã thất truyền. Những bí mật sẽ mãi nằm sâu trong lòng đất, nếu không có một biến cố bất ngờ.
 
Năm 1980 ông Makato Anabuki - Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, trong một chuyến đi công tác ở Thổ Nhĩ Kỳ đã nhìn thấy một chiếc bình gốm hoa lam, trang trí hoa sen và cúc dây cao 54 cm được trưng bày tại Viện Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul . T
 
rên vai bình có ghi 13 chữ Hán “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút”, nghĩa là “Năm Thái Hòa thứ tám (1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách vẽ chơi”. Vốn đã có thâm niên công tác tại Việt Nam và đặc biệt cũng là một người say mê gốm cổ, ông Makato Anabuki đã xác định bình gốm cổ này có xuất xứ từ Việt Nam.
 
Sau đó ông đã viết một lá thư gửi ông Ngô Duy Đông (lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương – tên cũ là Hải Hưng) nhờ xác minh giúp xem chiếc bình gốm quý giá đó có xuất xứ từ làng gốm nào.
 
Từ  thông tin trên, bảo tàng, sở Văn Hóa, các nhà nghiên cứu của Hải Dương đã vào cuộc sưu tầm những dấu vết về làng gốm cổ.
 
Năm 1986, người ta khai quật di tích Chu Đậu thuộc thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương. Kết quả đã tìm thấy nhiều di vật gốm mỹ nghệ cao cấp mà từ trước đến nay chưa từng được phát hiện, cũng như chứng tỏ nơi đây từng là một trung tâm sản xuất gốm lớn của Việt Nam .
 
Năm 1999, khi con tàu đắm ở Cù Lao Chàm (Hội An) và Pandanan (Philippines) được trục vớt đã thu vớt hơn 20 vạn sản phẩm có xuất xứ từ Chu Đậu. Chứng tỏ thời kỳ hoàng kim,  gốm Chu Đậu đã giao thương buôn bán không chỉ trong khu vực mà còn vươn ra với thế giới (Hiện nay người ta đã thống kê được Gốm Chu Đậu đang được trân trọng lưu giữ tại 46 bảo tàng danh tiếng ở hơn 30 quốc gia trên khắp thế giới).
 
Gốm cổ hồi sinh
 
Đến thăm Chu Đậu vào ngày cuối đông, rất may mắn tôi được gặp ông Nguyễn Văn Lưu- giám đốc xí nghiệp gốm Chu Đậu. Ấn tượng đầu tiên về ông là vẻ rắn rỏi, cương nghị và hồn hậu đậm chất “lính”.
 
Ông dẫn tôi đi một vòng thăm Xí nghiệp trên diện tích gần 4 hecta và kể về quy trình tạo ra một sản phẩm gốm. Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất (Đất sét ở Chu Đậu lấy từ vùng thổ nhưỡng trầm tích phù sa của 6 con sông lớn – Lục Đầu Giang: sông Lục Nam, Sông Thương, Sông Cầu, Sông Đuống, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình).
 
Sau đó đất được tạo dáng "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay. Để tạo hoa văn, thợ gốm dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoạ tiết; phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm.Vì thế mà các nhà nghiên cứu mới đúc kết quy trình sản xuất ra gốm Chu Đậu mang đầy tính tâm linh: Đất tạo nên xương cốt, nước tạo ra hình hài, lửa tạo ra thần thái! Đó là sự kết hợp hài hòa của âm dương ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ).
 
Khi được hỏi về quá trình “phục hưng” gốm cổ ông hào hứng “Năm 2000, khi tôi đang làm trưởng phòng gốm mỹ nghệ của Haprosimex thuộc Tổng Công ty Thương mại Hà Nội có thương hiệu là Hapro tại TPHCM thì Báo Sài Gòn Giải Phóng đăng tin trục vớt một con tàu ở Cù lao Tràm – Quảng Ngãi trong đó có 40 vạn cổ vật được xác định là gốm Chu Đậu của quê hương Nam Sách chúng tôi. Anh Nguyễn Hữu Thắng – Tổng giám đốc Hapro cũng là một người con của sông Kinh Thầy nảy ra ý tưởng cử tôi về quê, phục hưng nghề gốm của quê hương...
 
Nói đến đây giọng ông bỗng chùng xuống “Có ý tưởng, quyết tâm như vậy nhưng ngày đầu về đây thì khó khăn trùng trùng. 10 năm trước Chu Đậu còn là một làng quê nghèo, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông và dệt chiếu cói.
 
Đất nơi này lúc đó là sình lầy, hoang vu, đường giao thông còn chưa có. Nhưng điều khó khăn nhất là nghề gốm Chu Đậu ngày xưa hoàn toàn không còn trong tâm thức của người dân ở đây. Các nghệ nhân xưa cũng không còn một ai, các bí quyết cũng đã bị thất truyền.
 
Năm 2001, chúng tôi đã đi khắp nơi mời được hơn chục nghệ nhân nổi tiếng, từ Nam ra Bắc, những nhà khoa học... trong đó có những nghệ nhân nổi tiếng khu vực và Việt Nam như nghệ nhân – Bàn tay vàng Đông Dương Vũ Thế Cửu, nghệ nhân - Hoạ sĩ Vũ Bá Định, Tiến sĩ hoá Nguyễn Năng Thi... Chính họ đã cùng chúng tôi bỏ nhiều công sức để tìm tòi, nghiên cứu và đặt những dấu ấn đầu tiên phục dựng lại nghề gốm Chu Đậu, từ việc mô phỏng lại kiểu dáng gốm cổ, chất liệu, màu men, cách thức sản xuất...
 
Sau đó, chúng tôi đã tổ chức mở nhiều khoá học cho con em ở địa phương về kiến thức làm gốm, thu nhận họ về Xí nghiệp và trở thành những người thợ gốm .Đào tạo thợ cũng gian nan không kém, 300 em thì chỉ có khoảng 15-20 em thành thợ gốm. Khả năng về kỹ thuật thì có thể dạy được nhưng năng khiếu về thẩm mỹ, cái “duyên” về nghề thì do “trời ban”.
 
Ông Lưu giải thích “Gốm Chu Đậu ngày nay không sản xuất đồng loạt, dùng máy mà tất cả dùng tay. Từ công đoạn tạo dáng, người thợ phải dùng tay “vuốt” trên  bàn xoay để tạo hình cho sản phẩm. Đến công đoạn tạo hoa văn, người thợ gốm vẽ trực tiếp vào mỗi sản phẩm, vì thế mỗi sản phẩm sản xuất ra ở đây có thể nói là “độc nhất vô nhị”.
 
Cũng là những bình hoa lam, bình tỳ bà, lọ hoa, chén đĩa hay những khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống của cư dân đồng bằng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, chim đậu trên cành hoa, đàn cá bơi dưới nước, mái nhà tranh ven sông... nhưng dưới sự “nhạy cảm” của đôi bàn tay, mỗi sản phẩm trở thành một tác phẩm mang cái thần, cái hồn rất riêng của mỗi người thợ gốm.
 
Đưa tôi đến phòng trưng bày sản phẩm của Xí nghiệp, diện tích 1.000m2   với hàng ngàn, hàng vạn các sản phẩm đủ loại kiểu dáng, kích cỡ, hoa văn, họa tiết ,ông Lưu phấn khởi khoe “Bước đầu khó khăn là thế, nhưng 10 năm qua gốm Chu Đậu đã tồn tại và từng bước khẳng định được vị thế của mình. Hiện nay mỗi năm Chu Đậu sản xuất ra hơn chục triệu sản phẩm Các sản phẩm gốm sản xuất ra không chỉ tiêu thụ mạnh trong nội địa mà còn xuất đi trên 50 quốc gia thế giới như châu Âu, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Nhật, Hàn Quốc. Đặc biệt người Nhật rất chuộng dòng sản phẩm này và chén, ấm uống trà của Trà đạo Nhật Bản chính là những sản phẩm của dòng gốm Chu Đậu.
 
Cầm trên tay một chiếc hoa lam tôi hỏi ông: - Chiếc bình ở Istanbul giống như chiếc bình này phải không ạ?
 
Ông Lưu cười, cái cười hào sảng hồn hậu rất “lính” – Không đâu, chiếc bình ở Istanbul hiện giờ có giá khoảng hơn một triệu đô, còn cái bình cháu cầm thì chỉ đáng giá vài trăm ngàn đồng Việt Nam và chú có thể tặng cháu.
 
Rồi ông giải thích ngay: Đỉnh cao của gốm được gói gọn trong 5 tiêu chí, đó là: Trong như ngọc, trắng như ngà, mỏng như giấy, sáng như gương và kêu như chuông. Đến nay gốm Chu Đậu do chúng tôi sản xuất cũng đã hội tụ gần đủ cả 5 yếu tố đó. Tuy nhiên, do các bí kíp đã thất truyền, nên một số đặc tính gia truyền của gốm Chu Đậu cổ chúng tôi vẫn chưa nghiên cứu và phỏng theo hết được. Đặc biệt là loại men “Tam Thái” – men ba màu đặc sắc của gốm Chu Đậu cổ xưa. Thế mới thấy cái tài hoa, cái kỳ diệu của ông cha ta.
 
Cầm chiếc bình gốm trên tay ngoài sự khâm phục, tự hào đối với thế hệ cha ông đã tạo ra được dòng gốm nổi tiếng khắp thế giới cách đây hàng thế kỷ, tôi còn cảm phục cái tài và cái tâm của những người con đất Việt bảo tồn và phát huy được Gốm Chu Đậu, một dòng gốm mang bản sắc thuần Việt, có giá trị lịch sử, văn hoá sâu sắc là một điều đáng trân trọng , tự hào.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Lòng mê nghề của ông chủ gốm sứ Minh Long

Lòng mê nghề của ông chủ gốm sứ Minh Long

Trong số nhiều tấm gương khởi nghiệp thành công, có người làm nên nhờ táo bạo trong kinh doanh, có người lại nhờ sự đam mê nghiên cứu đổi mới công nghệ. Lý Ngọc Minh tiêu biểu cho cả hai hình mẫu, và điều đáng nói là ông chưa từng qua trường lớp chính quy nào.
 
Khó có thể hình dung được những sản phẩm gốm sứ chất lượng cao nổi tiếng với doanh thu hàng nghìn tỷ đồng, đã chinh phục được nhiều thị trường trên thế giới, với một số tính năng vượt trội hơn cả sản phẩm của những hãng gốm sứ quốc tế danh tiếng hàng đầu, lại là kết quả của một quá trình mày mò tự nghiên cứu của một người chủ chưa từng qua đào tạo chính quy về gốm, và trình độ học vấn chưa qua lớp 4 trường làng. Ông hóm hỉnh gọi nhà máy của mình là trường học đại, vì “nơi đây toàn những người xuất phát không hiểu biết gì về công nghệ gốm sứ, cũng không qua trường lớp đào tạo chính quy về nghề này”.
 
Quyết tâm làm chủ công nghệ
 
“Tôi mê nghề chứ không quá ham chuyện kiếm tiền. Chính sự mê nghề đã tạo cho tôi bản lĩnh và sự bạo dạn, và cho phép mình đầu tư những khoản đầu tư lớn, dù có thể không đem lại hiệu quả kinh tế như mong muốn nhưng đem lại thành tựu kỹ thuật. Đối với tôi, thành tựu kỹ thuật quan trọng hơn thành tựu kinh tế”. 
    
Với xuất phát điểm từ chỗ thiếu cả kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức chuyên môn, ông Lý Ngọc Minh và những cộng sự của mình đã phải tự mày mò tìm hiểu, nghiên cứu, và học hỏi liên tục. Chính nhờ quá trình học hỏi liên tục mà hoạt động và kỹ thuật sản xuất của công ty không ngừng được cải tiến, nhiều công nghệ và thiết bị được công ty áp dụng và sửa đổi lại vừa phù hợp với ý muốn của mình, vừa giảm bớt sự phụ thuộc vào nước ngoài. 
 
Ví dụ như loại bột tạo phôi mà ở nước ngoài các công ty gốm sứ phải lấy nguồn cung cấp từ các nhà sản xuất chuyên trách, trong đó đòi hỏi máy móc hiện đại và kỹ thuật rất cao, nhưng Minh Long hoàn toàn tự chủ động sản xuất lấy. “Nếu nhập của nước ngoài thì thời gian chậm quá, không kịp phục vụ sản xuất, và mỗi khi cần thay đổi một loại đất nào đó thì lại gặp khó khăn. Mặc dù tự sản xuất thì cũng khá vất vả nhưng chi phí vẫn rẻ hơn, giúp tiết kiệm 30 - 50% so với nhập của nước ngoài”, ông Minh giải thích. 
 
Một ví dụ khác là các loại khuôn đặc chủng mà trước đây Minh Long bắt buộc phải nhập khẩu từ nước ngoài và gặp hạn chế là mỗi nhà máy của họ chỉ sản xuất được 100-200 chủng loại khuôn, trong khi Minh Long phải sản xuất tới cả nghìn chủng loại khác nhau nhằm đáp ứng đặc thù văn hóa người tiêu dùng của Việt Nam vốn luôn đòi hỏi sự phong phú về kiểu dáng, mẫu mã. Vì vậy, sau gần 10 năm từ học hỏi cách bố trí máy móc, thiết bị, phần mềm, huấn luyện tạo đội ngũ người làm, và liên tục cải tiến, Minh Long đã tạo ra được một quy trình sản xuất khuôn suôn sẻ, với giá thành chỉ bằng một phần tư giá nhập khẩu.   
 
Phần lớn các đổi mới công nghệ tại Minh Long chủ yếu do ban giám đốc nghiên cứu, khảo sát, từ đó đề ra những ý tưởng đổi mới, và tự tìm cách xử lý các vướng mắc”, ông Minh lý giải. Chẳng hạn như với công nghệ men chống bám dính, khi nghe nói trên thế giới có công nghệ men giúp gốm sứ không bám bẩn dầu mỡ, ông Lý Ngọc Minh và ban giám đốc đã tự tìm hiểu về nguyên lý chế ra men đạt tới kích thước nano để có độ bóng và chống bám dính như mong muốn, rồi cũng tự họ nghiên cứu tìm mua máy móc về sản xuất lấy. Những máy móc này, cũng như đa số các thiết bị nhập khẩu khác từ nước ngoài, khi nhập về Minh Long luôn tìm cách học cách tự cài đặt sử dụng để khi không có chuyên gia nước ngoài thì công ty vẫn có thể tự chủ được. “Kể cả khi một số linh kiện hư hỏng chúng tôi cũng tự chế tạo được để có thể sử dụng tạm thời khi chưa có linh kiện nhập thay thế”, ông Minh tự tin khẳng định. 
 
Màu và men: làm được điều thế giới chưa làm được
 
Từ khi mới xuất hiện, gốm sứ Minh Long đã nổi tiếng vì độ trắng bóng, và trong thời gian liên tục mười mấy năm những phẩm chất này vẫn liên tục được cải tiến nâng cao. “Tới nay, độ trắng bóng của gốm sứ Minh Long gần như đạt tới tuyệt đối”, ông Minh khẳng định. Theo ông, trong số hàng nghìn hãng gốm sứ trên thế giới, chỉ có khoảng năm hãng có chất lượng tương đương với Minh Long về độ trắng, độ bóng, độ cứng, và không có hãng nào, dù là của Đức, Pháp, hay Nhật, hơn được sản phẩm của Minh Long về các tiêu chí này. 
 
Bên cạnh đó, tất cả những hãng gốm nổi tiếng về kỹ thuật vẽ gốm bằng tay – như hãng Meissen của Đức và Herend của Hungary nổi tiếng về vẽ tay trên bình hoa, hay hãng Royal Copenhagen của Đan Mạch đứng đầu về vẽ tay trên chén, đĩa – đều phải dùng công nghệ truyền thống là nung sản phẩm ở nhiệt độ 800 – 850 độ C, trong khi công nghệ gốm vẽ tay của Minh Long cho phép nung sản phẩm tới nhiệt độ 1230 – 1250 độ C. Ông Minh khẳng định rằng sự vượt trội này về công nghệ khiến sản phẩm vẽ tay của Minh Long đứng xa thấy đẹp, lại gần thì mịn màng, sờ vào thấy mát, còn sản phẩm vẽ tay của nước ngoài có thể đứng xa thấy đẹp nhưng lại gần thấy màu men bị đục, sờ vào thấy cộm. Nhìn vào những sản phẩm này của nước ngoài không thể thấy chiều sâu của họa tiết, trong khi nhìn vào họa tiết của Minh Long dưới lớp men được nung ở nhiệt độ cao đem lại hiệu ứng ba chiều và độ sâu, tạo cảm giác sinh động hơn. 
 
Đồng thời, trên thế giới cũng chưa có hãng gốm nào có được một số màu sắc đặc biệt như sản phẩm của Minh Long khi nung ở nhiệt độ cao, ví dụ như màu đỏ sậm, hay màu xanh dương – để trong phòng thì là màu xanh thẫm, khi mang ra ngoài sáng thành tươi màu thiên thanh – mà ông Minh gọi là màu king blue. Với nhiệt độ nung tối đa là 850 độ C mà công nghệ chung của thế giới hiện nay đang áp dụng, khi sản phẩm tiếp xúc lâu với mưa, nắng, hoặc gặp môi trường khắc nghiệt như kiềm, mặn, hay chua (tiếp xúc với chanh, dấm) thì men có thể sẽ bị bong tróc hoặc phai mờ. Ngoài vấn đề về thẩm mỹ, điều này còn gây nguy hại cho người sử dụng, vì men chính là lớp bảo vệ ngăn chất độc – thông thường các sản phẩm màu đẹp, như các màu đỏ, vàng chanh, hay vàng cam, thì đều có cadmidium, hoặc một số sản phẩm gốm sứ của Trung Quốc dùng màu pha chì cũng rất độc hại nếu bị hỏng lớp men bảo vệ. Nhưng với sản phẩm của Minh Long, ông Minh khẳng định rằng lớp men bảo vệ sau khi trải qua nhiệt độ nung cao sẽ tồn tại được bền vững “hàng nghìn năm mà không gặp vấn đề gì”, và ngăn được chất độc tiết ra từ màu khi sản phẩm trong quá trình sử dụng tiếp xúc lâu với kiềm hay axit. Cũng nhờ bảo đảm an toàn như vậy nên sản phẩm của Minh Long dễ dàng vượt qua được các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật của những thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản. 
 
Khi được hỏi vì sao các hãng làm gốm vẽ tay trên thế giới không nung được ở nhiệt độ cao như Minh Long, ông Minh nói: “Vì công nghệ của chúng tôi rất khó”. Khi gốm được nung ở nhiệt độ cao, men và màu cùng bị tan chảy và thay đổi về cấu trúc cũng như bước sóng ánh sáng khi nhìn vào, khiến hình ảnh và màu sắc cũng bị thay đổi không còn được như ý muốn ban đầu của người nghệ nhân. Ngoài ra, khi men nóng chảy thì màu vẽ bên dưới cũng có thể bị rung, nhòe, dịch chuyển, khiến nét vẽ bị biến đổi, ông nói. Tuy nhiên, ông không tiết lộ chi tiết bí quyết giúp Minh Long vượt qua những khó khăn kỹ thuật này. “Đơn giản là chúng tôi nắm vững và vận dụng một số kiến thức vật lý, và trong chừng mực nào đó biết cách làm ảo thuật– những nhà ảo thuật đều là những người giỏi vận dụng các kỹ thuật vật lý – để có thể đạt được những kết quả mà người khác không đạt được”.   
 
Linh tính và những may mắn tình cờ 
 
Nói về bí quyết thành công của bản thân, ông Minh khiêm tốn cho rằng mình là người gặp nhiều may mắn. Ông kể nhiều câu chuyện để chứng minh cho sự may mắn của mình. Một lần ông đóng vai là người đang tìm mua lò gốm vào tham quan một nhà máy sản xuất gốm ở châu Âu, kỳ thực là ngầm tìm cách học hỏi về cách bố trí máy móc của xưởng gốm. Nhưng người quản lý nhà máy hôm đó đoán được ý định của ông nên chỉ cho ông đứng xem lò chứ không cho tự do đi xem những nơi khác. “Tôi đứng đó hết một buổi mà không có cách gì khác, đành phải thất vọng đi về, trong lòng thầm nghĩ vậy là tốn sức vô ích, mất công chạy ô tô xa 3-4 trăm km mà đành về không.” Nhưng thật tình cờ, khi về trên con đường cao tốc nơi những chiếc xe đều phóng với tốc độ 150-170 km/giờ, một người quen đi ngược chiều, cũng chính là người bán lò cho ông Minh, đã nhận ra xe của ông và đánh xi nhan để hai bên dừng lại. Khi biết được nỗi thất vọng của ông, người bạn liền thuyết phục ông cùng quay lại nhà máy đó vào ngày hôm sau. “Khi chúng tôi quay lại thì người phụ trách hôm đó là người phó của vị quản lý hôm trước, và anh này vì không biết được ý đồ của tôi nên đã cho phép tôi đi lại tham quan tự do”. Nhờ cơ hội đó mà ông học hỏi được từ xưởng gốm đó những thông tin thiết yếu về bố trí thiết bị, hoàn toàn khớp với dây chuyền công nghệ mà Minh Long khi đó nhắm tới. 
 
Nhưng với những công nghệ cốt lõi bên trong – như về cấu trúc vật liệu hay những loại màu, men mới – là những điều không thể học lỏm được, thì ông bắt buộc phải đầu tư nghiên cứu, học hỏi qua sách vở và nhiều nguồn khác nhau. Trong quá trình đó, ông cũng nhận được những sự giúp đỡ hoàn toàn bất ngờ. Có những người bạn không làm nghề gốm, nhưng bỗng mang đến tặng cho ông những cuốn sách tư liệu hữu ích. Cũng chính là bạn bè đã giới thiệu về máy đo laze để ông nghiên cứu sử dụng thay thế cho cách đo cổ điển, từ khi loại thiết bị này còn rất mới và không mấy ai biết. “Khi mua máy đo laser, chúng tôi phải năn nỉ, thuyết minh rất nhiều họ mới tin là dùng cho sản xuất gốm sứ, và người bán máy bắt tôi cam kết không dùng vào mục đích quốc phòng”, ông Minh kể. 
 
Cũng có lúc sự may mắn của ông tình cờ đến mức lạ lùng, như lần ông tự mày mò chế được màu đỏ ô xít thiếc của Anh mà ông không thể tìm được trong sách vở vì nhà sản xuất giấu kín bí quyết. Đó là một lần làm việc cẩu thả, do nghiên cứu tìm tòi lâu ngày mà không ra nên ông mỏi mệt, lười không dọn dẹp phòng thí nghiệm. Tình cờ trong số các màu rơi vãi lẫn lộn chồng chéo vào nhau, ông linh cảm rằng một trong số đó chính là thứ màu ông hằng tìm kiếm, và linh tính của ông đã hoàn toàn đúng.
 
Ông Minh cho rằng yếu tố may mắn tình cờ là rất cần thiết trong mọi việc, kể cả trong công việc của những người làm khoa học và công nghệ. Nhưng điều quan trọng là làm sao nắm bắt được những cơ hội bất ngờ đó. “Người khác có thể cũng gặp tình huống tình cờ như tôi, nhưng điều khác biệt là tôi có linh tính để nắm bắt được”.

Vào sinh ra tử
 
Làm gốm tới mức đam mê như ông Lý Ngọc Minh thì cũng có cả những lần vào sinh ra tử. Ông kể cho chúng tôi về những chuyến đi lý thú nhưng cũng đầy bất trắc tới các mỏ đất, trong đó có hai lần suýt bỏ mạng khi một lần bị kẹt trong mưa rừng Phú Thọ giữa lúc chiều tối, và một lần đi đường 9 Nam Lào gặp đúng đoạn đèo bị sạt lở. Ông không chỉ tới các mỏ đất ở Việt Nam, mà lặn lội đến cả những mỏ đất lớn trên thế giới, tìm xuống những hầm mỏ đất sâu tới hàng trăm mét ở Trung Quốc, trong những chiếc lồng sắt không đèn đuốc mà mỗi lần đi xuống phải mất hàng 5-7 phút. “Vừa đi tôi vừa run, sợ rằng không may lồng bị đứt xuống thì biết làm sao”, ông vui vẻ kể lại.
 
Nhưng đối với ông, những chuyến đi đó chưa thể so được với ba lần “sinh tử”, khi ông cận kề cái chế trong gang tấc. Lần thứ nhất vào năm 1980, khi ông xây một hồ nước mấy trăm khối để lọc đất. Thời đó rất thiếu xi măng nên ông tiết kiệm, pha lẫn với vôi. Hậu quả là nước bị rò dưới chân. Chỉ giây lát sau khi ông xem xét chỗ rò và quyết định ngày hôm sau sẽ sửa lại, vừa bước đi được 5 m thì toàn bộ hồ đang đầy bị vỡ toang. “Nếu tôi ở gần hơn chắc chắn toàn bộ bức thành bể xây gạch dày 20 phân sẽ cuốn bay vào đầu”, ông kể. Lần thứ hai xảy ra khoảng một năm sau, vào thời kỳ Minh Long còn làm bộ trà phỏng theo hình trái măng cụt. Để ra màu măng cụt phải sử dụng men chảy, vì vậy phải dùng máy để mài những mẩu men rớt xuống chân đế sản phẩm. Thấy công nhân mài quá chậm ông đích thân thử làm nhằm tìm ra cách nhanh hơn hướng dẫn lại cho họ. Bánh đá mài thời đó phải dùng loại của Liên Xô, không được thẳng như của Nhật nên rất dễ bị rung. Khi ông vừa ngồi xuống thì nghe một tiếng nổ lớn như lựu đạn. Nhìn xuống tay thấy bình trà măng cụt vỡ nát, nhìn lên trên thấy một mảnh bánh đá mài bắn văng lên cắt đứt ngọt tấm mái tôn. Hai mảnh còn lại của chiếc bánh đá mài bay sát người của ông. Với tốc độ quay của bánh đá mài lên tới 2500 vòng/phút, nếu chúng văng vào người thì chắc chắn ông không thể tránh được và sẽ rất khó sống sót. Còn lần thứ ba xảy đến sau đó vài năm, khi ông ở trong phòng thí nghiệm mải mê nấu keo chế loại màu nhẹ lửa, đang tập trung cao độ nên sơ ý, để cho hai sợi dây điện âm – dương kẹp vào tay. “Tôi nghe như có tiếng pháo nổ và lửa đất trên đầu, miệng há ra mà không kêu được”, ông kể. Khi đó ông nghĩ thầm chắc chắn mình sẽ không thể thoát được, nhưng thật may mắn là sợi dây điện không đủ dài nên bị tuột ra theo cú ngã của ông. 
 
Ngoài những lần cận kề cái chết đó, còn không ít những lần biến cố xảy đến với xưởng gốm, như có lần phòng thí nghiệm của ông bùng cháy khắp nơi, khói bốc nghi ngút nhưng không hiểu sao lửa không bùng to và cuối cùng dập tắt được. Nhưng tất cả những hiểm nguy đó xảy ra không làm ông e ngại, chùn chân. Trái lại, “chúng xảy đến như để báo cho tôi biết rằng mình được phù trợ để làm được những việc lớn mà mình luôn theo đuổi”, ông nói.
 
Đắc nhân tâm
 
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm sứ - cả ông nội và cha đều theo nghiệp gốm – song chưa từng có ai đẩy được cơ nghiệp lên tới đỉnh cao như Lý Ngọc Minh, do ông không dễ dàng thỏa mãn với những gì làm được mà luôn đặt ra mục tiêu hướng tới cho doanh nghiệp, cả trước mắt và lâu dài. Trước mắt là tìm cách cải tiến sản xuất để có thể hạ thấp chi phí, tạo ra được mức giá đủ thấp giúp công ty trụ vững qua thời kỳ khó khăn chung về kinh tế, và hướng tới mục tiêu rút ngắn quy trình sản xuất để từ hòn đất ra tới sản phẩm chỉ mất 24 tiếng đồng hồ thay vì hàng tuần lễ như hiện nay. Xa hơn là tạo ra những sản phẩm mới có tính đột phá về kỹ thuật, không chỉ thuần túy phục vụ tiêu dùng mà sẽ có cả những sản phẩm phục vụ các ngành công nghiệp. “Chúng tôi sẽ tạo tiền đề để thế hệ lãnh đạo doanh nghiệp kế tiếp thực hiện được bước phát triển này trong tương lai”, ông nói.
 
Tuy nhiên, để đạt được những mục tiêu đề ra, theo ông Minh phải thực hiện tốt nguyên tắc quyền lợi người lao động gắn liền với quyền lợi của doanh nghiệp, đồng thời phải truyền được cảm hứng và nhiệt huyết từ người chủ doanh nghiệp tới mọi người lao động, hay nói cách khác là khả năng thu phục nhân tâm. “Quan hệ giữa tôi với công nhân vừa là chủ thợ, vừa là thầy trò, vừa là anh em”, ông nói. 
 
Khi cùng ông Minh đi tham quan nhà máy, chúng tôi thấy ông vừa giới thiệu từng chi tiết dây chuyền công nghệ, vừa liên tục dừng lại trao đổi công việc với mọi người ở mọi cấp bậc, từ thấp tới cao, với tâm thế ôn hòa, cẩn trọng, và hết sức giản dị. Trong ánh mắt những người nhân viên chúng tôi thấy sự tin tưởng và yên tâm thoải mái, hoàn toàn không có sự xa cách. Không chỉ những người công nhân, mà tất cả mọi người từng tiếp xúc với ông Minh đều tìm thấy ở ông sự bình dị nhưng không sơ sài, luôn chu đáo với mọi người. Và có lẽ đó là lý do nhiều người chỉ một lần tiếp xúc đã tìm cách giúp đỡ ông một cách hoàn toàn vô tư. Ông kể với chúng tôi rằng năm 1987, trong dịp đi Đức dự một hội chợ ở Leipzig, anh tham tán thương mại của sứ quán Việt Nam khi nghe ông nói chuyện, bày tỏ mong muốn được đi tham quan một nhà máy làm sứ cách điện, đã ngay lập tức đồng ý giúp đỡ. Ông còn nhớ rằng đêm hôm ấy hai người phải dậy từ 3 giờ sáng, ra đường giữa cái rét 0 độ C, và đi xe lửa mất 3 tiếng đồng hồ. Nhưng thật đáng tiếc sau đó hai người bị thất lạc liên lạc, và đây là điều mà đến bây giờ ông vẫn còn cảm thấy áy náy.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
 
Bạn đang xem:Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất
9.1/10 -  12 bình chọn
Trang chủ
Gốm sứ nội thất
Tranh ốp tường, trang trí

Cơ sở sản xuất Nội Thất Thời Nay

Hotline: 0979 892 690
Email: sales.noithatthoinay@gmail.com

Địa chỉ Cơ sở 1:   Số 14, ngõ 59, phố Nam Dư, Lĩnh Nam, Hà Nội

              Cơ sở 2:   Số 4, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội

Copyright © 2012. Thiết kế bởi noithatthoinay.com

LiveZilla Live Help
Text Link:YH:dungnt_23121988 : ||| sửa chữa cửa cuốn , sửa cửa cuốn , máy sấy tay , máy sấy tay Panasonic , máy đánh giầy , máy đánh giầy Shiny , máy đánh giầy Silroad , xe đẩy hàng , xe đẩy hàng Phong Thạch , xe đẩy hàng Prestar Japan ,