Logo
 
Hotline: 0934 231 288
Banner Sub 1
KHÔNG GIAN NỘI THẤT GỐM SỨ
Mr. Dũng Kinh doanh: Mr. Dũng Mr. Dũng Kỹ thuật: Mr. Dũng

Sưu tập gốm cổ Việt Nam

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885.

Xem tiếp
Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Giới sưu tầm cổ vật và những ai quan tâm cổ ngoạn, đều từng nghe qua bộ sưu tập Dương - Hà. Nhưng phải đến khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM...

Xem tiếp
Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Các di vật, cổ vật được trưng bày gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... từ đầu Công nguyên đến các triều đại Lý, Trần, Lê.

Xem tiếp
Trang

Bài viết tiêu điểm

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885. 

Cuộc cướp bóc

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Tô men rạn “lưỡng long tranh châu” thời Gia Long ảnh tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn - Giao Hưởng chụp …
 

Người ta trưng ra bằng chứng về một nhà truyền giáo người Pháp là Henri de Pirey, đã viết trên tạp chí B.A.V.H (Bulletin des amis du vieux Hué - 1914) rằng khi rút khỏi kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã chuyển kho báu của hoàng cung đến phía bắc. Kho báu này ước chừng 950 thùng, trong đó có 400 thùng đựng đầy vàng và 150 thùng đựng đầy bạc, số còn lại là các đồ quý giá nhất trong nước, nhưng vì chiến cuộc nên nhà vua chỉ mang theo được 100 thùng mà thôi. Không lâu sau, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, đày sang đảo Réunion, số vàng của vua chôn giấu nơi đâu? 
 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Điếu hút thuốc lào thời Gia Long, vẽ chim hạc và cành mai.

Nhiều người đặt câu hỏi như thế và lên đường tìm kiếm. Nhưng họ quên rằng hoặc không biết, trong suốt 3 tuần lễ sau ngày vua Hàm Nghi ra đi, phần lớn kho báu trong hoàng thành đã lọt vào tay người Pháp. Điều đó được ghi nhận qua tài liệu lưu trữ ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp tại Paris, với lời kể của linh mục Pène-Siefert, cho biết người Pháp đã lấy trong trại Cấm Vệ quân 113 lạng vàng, 742 lạng bạc, 2.627 quan tiền. Lấy tại cung bà thái hậu Từ Dũ 228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương và hạt trai, hạt ngọc; 271 vật dụng bằng vàng, 1.258 nén bạc, 3.416 lạng vàng. Họ cũng lấy hết vật phẩm của các tiên đế nhà Nguyễn dùng lúc sinh thời từ mũ miện, đai áo, triều phục, long sàng, đến các đỉnh trầm, khay chén... Tính ra “kho tàng trong hoàng cung đã mất đi ước chừng 24 triệu quan vàng và bạc”. 
 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Tô có nắp (tiềm quy giáp) vẽ mai rùa và rồng thời Minh Mạng.

Cuộc thất thoát kho báu của các vua triều Nguyễn kéo dài 2 tháng sau ngày kinh đô Huế bị thất thủ bởi người Pháp vào tháng 7.1885 đã gây tai tiếng hơn cả cuộc cướp phá lâu đài của hoàng đế nhà Thanh ở Bắc Kinh. Sau này vua Đồng Khánh nhiều lần đòi lại kho báu đã bị người Pháp lấy đi như biên bản ngày 21.3.1888 của Pháp đã ghi: “Trở lại chuyện đã bàn trước đây, hoàng thượng (vua Đồng Khánh) nhắc rằng các vật phẩm quý giá của hoàng gia bị thất thoát sau biến cố ngày 5.7 và chắc chắn hiện giờ đang nằm trên đất Pháp, giá trị nhất là chuỗi kim cương kết lại từ đời vua Gia Long cho tới đời vua Tự Đức, cùng một bảo kiếm nạm ngọc quý truyền lại từ đời vua Gia Long”. 
 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Bình hoa lớn vẽ mai rùa và rồng giỡn ngọc (long hí châu) thời Minh Mạng

Một trong những vật ấn tượng trong kho báu hoàng cung là con voi bằng vàng đúc rất tinh xảo, đã bị hai người Pháp có trọng trách tranh giành về riêng mình. Để rồi cuối cùng con voi vàng (kim tượng) là báu vật truyền đời kia bị chặt ra làm hai để chia cho hai đại diện thực dân Pháp mỗi người một nửa! Đó không phải là lời đồn của binh lính người Pháp hoặc quan chức người Việt, mà được ghi trong một báo cáo của Khâm sứ Trung kỳ Paul Rheinart gửi Toàn quyền Đông Dương Richaud ngày 28.2.1889 kèm theo lời phàn nàn: "Điều buồn lòng song vẫn phải nhắc lại là thiếu tướng Prudhomme đã chiếm đoạt những vật phẩm quý báu một cách không do dự (...), và điều đáng tiếc nữa là không có ai đem trả lại phần nào trong những của cải vô giá mà họ đã tước đoạt trắng trợn”.

Các chi tiết trên phần lớn nằm trong tài liệu lưu trữ ở Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp - Paris (chưa xuất bản) được sưu tầm, trích dẫn, dịch thuật bởi Nguyễn Xuân Thọ, Nguyễn Ngọc Cư và do nhà nghiên cứu Phan Thuận An giới thiệu qua tài liệu về các bảo vật ở hoàng cung, đăng trong Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn do Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường Thừa Thiên-Huế kết hợp với Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế ấn hành (tháng 7.2002). 

Theo tài liệu trên, sau ngày vua Hàm Nghi đi đày, hoàng cung còn giữ lại nhiều bảo vật vô giá như những bửu tỷ bằng vàng khối có cái nặng đến 18 kg, ngọc điệp nhà Nguyễn, những chiếc độc bình lớn bằng men lam Huế (bluers de Hue), các tủ chạm cẩn xà cừ, các ché lớn thời Minh và các ché màu lục nhạt (céladon), các đĩa lớn đường kính 55 cm màu hồ thủy đẹp tuyệt vời... 

 

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Bình vôi thế kỷ 19.
 

Ngay cả những nhà sưu tập và nghiên cứu ngôn ngữ học nước ngoài như Paul Boudet - là chứng nhân thời ấy - đã cho biết rằng, lúc bấy giờ ở điện Càn Thành (điện Trung Hòa) “vẫn còn 26 quyển kim sách đúc bằng vàng chứa đựng các chi tiết được ghi lại về lễ đăng quang của các vua Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Đồng Khánh, Khải Định, những điều liên quan đến lễ tuyên phong cho các hoàng hậu và các hoàng thái tử” và 46 cái ấn bằng ngọc hoặc bằng vàng. Nay những bảo vật trên hầu như đã không còn và lưu lạc khỏi kinh thành Huế, thất tán khắp bốn phương trời...

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Đĩa vẽ chim công và hoa mẫu đơn, ký kiểu tại Anh thế kỷ 19.


Bức tranh của vị hoàng đế đi đày

 

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế
 
Đồ sứ do Bảo Đại đặt làm tại Pháp có thơ và minh họa theo truyện Kiều: “Khi gió gác khi trăng sân - Bầu tiên chuốc …

Tháng 11.2010, một tác phẩm hội họa của vua Hàm Nghi, lần đầu tiên được đem ra bán đấu giá tại Paris (Pháp). Bức sơn dầu Déclin du jour (Chiều tà) này có kích thước 35 x 46 cm, ghi là vẽ năm 1915. Lúc đó cựu hoàng ở Alger (Algérie), sống và sáng tác tranh tượng tại biệt thự Gia Long, khu El Biar. Theo quy định pháp luật, bảo vật quốc gia phải thể hiện là vật chứng của một sự kiện lớn, hoặc gắn bó với các anh hùng danh nhân, từ đó có thể nói bức tranh Déclin du jour của vua Hàm Nghi là một bảo vật. Cuộc bán đấu giá bảo vật ấy được Mathilde Tuyết Trân - một người Việt sinh sống ở nước ngoài - kể lại giá khởi đầu ấn định từ 800 - 1.200 euro. Chỉ trong vài phút giá tăng liên tục đến 4.500. Đến khi những người Việt Nam có mặt trong phòng đấu giá trả tới 5.000 euro, thì “bắt đầu có người cho giá qua điện thoại, họ thêm ngay 1.000 euro, đẩy giá tấm tranh lên 6.000 euro. Từ đó cuộc đấu giá “tay đôi” giữa hai người phụ nữ trong phòng và người đẩy giá qua điện thoại diễn ra”. Theo Mathilde Tuyết Trân, con số đã đẩy đến mức 8.800 euro cộng thêm 26% phụ phí đấu giá, thành mức tiền phải trả cuối cùng là 11.088 euro - gấp 8 lần giá ban đầu.  Điều đó đã “thể hiện tình cảm đối với một kỷ vật của vua Hàm Nghi (...) tình cảm những người có lòng với quê hương và quá khứ lịch sử”. 

 

Nguồn: Sưu tầm

 

Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung

Dân cư mạng gặp phải lối trang trí gây sốc khi tìm kiếm căn hộ cho thuê
 
Hết hạn thuê nhà và tôi nghĩ đến việc thay đổi nơi ở. Do tiền bạc hạn chế tôi không đủ tài chính để thuê một nơi ở thật tốt, nhưng tôi cũng không dám ở những nơi quá tệ. Sau khi chọn xem vài nơi quảng cáo trên mạng, cuối cùng tôi đã chọn xem một căn hộ mà người chủ nói rằng đã trang trí cực kỳ đẹp. Không chỉ trang trí thật tốt mà giá cũng không mắc lắm, đối với tôi điều này thật hấp dẫn. Tôi hối hả liên hệ người chủ và muốn kiểm tra ngoại cảnh căn hộ, dự tính thuê chổ này ngay lập tức nếu nó không quá tệ. Tuy nhiên, sau khi xem thấy căn hộ, I am dumb-founded…(để nguyên Tiếng Anh hay hơn!)
 
Cách thức trang trí này…

Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung
Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung
Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung
Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung
Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung

Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung
Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung
Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung
Trang trí nội thất gây sốc với chiến binh đất nung
 
 

 
 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Gốm Giang Cao làng nghề truyền thống Hà Nội.

Gốm Giang Cao làng nghề truyền thống Hà Nội.

Nhắc đến nghề gốm sứ truyền thống, người ta thường hay nghĩ đến gốm Bát Tràng. Hầu như không ai biết bên cạnh Bát Tràng còn có một làng gốm Giang Cao. Không có lịch sử lâu đời tới cả vài trăm năm như gốm Bát Tràng, song gốm Giang Cao lại có sức bật trẻ của một làng nghề 60 năm tuổi vừa được công nhận là làng nghề truyền thống Hà Nội.
 
Xã Bát Tràng gồm hai thôn Bát Tràng và Giang Cao, trước năm 1945 là hai xã riêng biệt. Giang Cao trước đây có tên gọi là làng Đông Sáng, sau đổi thành Đông Ca và đến thời nhà Nguyễn trước đời vua Ưng Xụy, niên hiệu Đồng Khánh được đổi thành Giang Cao. So với lịch sử của làng gốm Kim Lan (800 năm) và làng Bát Tràng (700 năm), làng gốm Giang Cao tuổi nghề còn khá trẻ (khoảng hơn 60 năm). 
 
Thấp tuổi làng trẻ tuổi nghề 
 
Sau gần một giờ xe chạy, trước mắt chúng tôi không phải là cảnh làng quê với những mái ngói đỏ tươi, ruộng đồng thẳng cánh cò bay mà là một làng nghề thịnh vượng với những dãy nhà cao tầng nối tiếp nhau, liền kề xưởng gốm. Sản phẩm gốm đủ chủng loại, màu sắc, kích cỡ được bày biện rất nghệ thuật, khách du lịch ra vào tấp nập.
 
Tiếp chúng tôi bên bình trà chính hiệu gốm Giang Cao, ông Lê Văn Cam, nghệ nhân của làng trầm ngâm: “Sau năm 1989 cả xã Bát Tràng trở thành một trung tâm gốm lớn. Ngày xưa, người dân Giang Cao không mở xưởng gốm mà chỉ đi làm thuê cho bên Bát Tràng. Đến thời Pháp thuộc, có ông Phán Sồ, đã đỗ tú tài, mở một xưởng gốm có tên là Ngọc Quang. Đó là xưởng gốm đầu tiên của làng Giang Cao. 
 
Từ xưởng gốm đầu tiên ấy, con cháu Giang Cao bắt đầu xây dựng những xưởng gốm của riêng mình. Đến nay, nghề gốm đã trở thành nghề truyền thống của cả làng”. Giang Cao có khoảng trên 900 hộ dân, thì toàn bộ làm gốm, trong đó có 41 công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân; còn lại số ít làm dịch vụ. So với Bát Tràng 700 năm tuổi, gốm Giang Cao ít được du khách biết đến hơn, số nghệ nhân đã được công nhận cũng ít hơn. 
 
Bù lại, Giang Cao có nhiều điều kiện thuận lợi như: đất đai còn rộng để phát triển, số nghệ nhân, số hộ, số doanh nghiệp đông hơn. Sự năng động, sáng tạo và sức bật của làng nghề trẻ đã giúp Giang Cao ngày càng khẳng định vị thế trên thị trường. 
 
Theo ông Đào Xuân Hùng, Bí thư Đảng ủy -Chủ tịch UBND xã Bát Tràng, tổng thu nhập của cả xã Bát Tràng vào khoảng 2-3 triệu USD/ năm, thu nhập  cả xã lên tới 8 triệu USD/ năm, trong đó, Giang Cao chiếm xấp xỉ 50%, bình quân thu nhập của người dân là 28,5 triệu đồng/năm.
 
Người dân làng gốm cho biết, để có những sản phẩm chất lượng, đất sét phải mua từ làng Cổ Điền bên Vĩnh Phúc, hoặc mua từ làng Dâu bên Bắc Ninh. Đó là đất sét trắng, còn đất sét đỏ phải mua từ tận Hải Dương hay Thổ Hà - Bắc Ninh. Làng gốm có câu truyền miệng: “Nhất dáng, nhì men, rồi đến khắc, vẽ”. 
 
Gốm nơi đây từ xưa đã nổi tiếng về chất men phủ, phổ biến là men màu búp dong. Loại men này có độ trắng hơi ngả xanh hoặc xám, trong và sâu. 
 
Cũng theo ông Cam, thời xưa còn có loại men là men lý, men nho, màu gần như màu ngọc thạch nên được gọi là men ngọc, nhưng đã bị thất truyền từ lâu. Ngoài ra còn có các loại men rạn, men cát, men chảy, men kính, men co, men giả đá. Mỗi loại đều có những nét độc đáo riêng mà chỉ có người sành gốm mới có thể thẩm định được. 
 
Hiện nay, ở làng Giang Cao, hầu hết các lò gốm đã không còn dùng than, củi hay rơm rạ để đốt lò mà dùng lò công nghiệp bằng ga nên hạn chế được sự ô nhiễm môi trường, đồng thời cũng giảm được lượng phế phẩm. 
 
Có chỗ trên thị trường, vươn ra nước ngoài
 
Cùng với gốm Chu Đậu, Phù Lãng, Bàu Trúc, gốm Giang Cao đã được chọn để vinh danh cho gốm sứ truyền thống Việt Nam. Sản phẩm gạch hoa, ngói gốm, ngói sành của các công ty như Quang Minh, Thanh Hải cũng được dùng trong công trình phục hồi di tích Hoàng thành Thăng Long, cố đô Huế. 
 
Riêng trong năm 2012, làng đón tiếp tổng cộng 595 đoàn với trên 10.000 lượt khách quốc tế và hàng chục nghìn khách trong nước về thăm quan du lịch, ký kết hợp đồng kinh tế, mua hàng gốm sứ. Khách du lịch, nhất là khách nước ngoài thường ưa thích các sản phẩm men rạn hay hoa văn, hình dáng mang hơi hướng cổ điển.
 
Vươn ra khỏi thị trường trong nước, gốm Giang Cao hiện đã có mặt ở rất nhiều nơi trên thế giới. Thị trường gốm sứ Giang Cao không chỉ dừng lại ở các nước châu á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan mà còn sang cả Mỹ, úc và các nước EU. 
 
Nhiều sản phẩm gốm cổ của xã Bát Tràng đang được lưu giữ tại các viện bảo tàng lớn trên thế giới như Viện bảo tàng Royaux -Vương quốc Bỉ, Viện bảo tàng Guimet - Pháp là những nhịp cầu nối giúp thế giới biết nhiều hơn đến gốm Bát Tràng nói chung và Gốm Giang Cao nói riêng. Mỗi năm, có hàng triệu sản phẩm được đem ra thế giới, thu nhập từ xuất khẩu chiếm khoảng 30% tổng thu nhập của cả làng. 
 
Có những doanh nghiệp Hàn Quốc còn mang mẫu mã sang tận nơi để đặt hàng sản phẩm. Bảo tồn và phát triển là câu chuyện chung của tất cả các làng nghề truyền thống ở Việt Nam, không chỉ riêng với gốm Giang Cao, đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng xâm nhập sâu tới các ngõ xóm, đường làng như hiện nay. 
 
Dạo quanh một loạt phòng trưng bày, giới thiệu sản phẩm, chúng tôi nhận thấy các mặt hàng đa phần không đề xuất xứ, hãng sản xuất. Đây là điều kiện thuận lợi cho hàng giả trà trộn.
 
Theo ông Đào Xuân Hùng, có một số hộ kinh doanh cá thể đưa thêm hàng Trung Quốc vào bán cùng, tuy không nhiều nhưng điều đó chắc chắn làm ảnh hưởng tới uy tín chất lượng, thương hiệu của làng. Bên cạnh việc tuyên truyền tới người dân, chính quyền xã cũng đã trình lên huyện việc đề nghị Sở Công Thương cấp tem bảo hộ và quy chế sử dụng tem để tránh hàng giả hàng nhái trà trộn vào sản phẩm Giang Cao, làm mọi cách giữ thương hiệu cho làng nghề.
 
Liên kết để bảo tồn, phát triển
 
Ở Giang Cao, hình thức đào tạo, truyền thụ nghề vẫn còn mang tính cá nhân, nhỏ lẻ. Xây dựng một trung tâm đào tạo nghề quy mô lớn do Hội gốm sứ trực tiếp đào tạo là mục tiêu trong tương lai gần của xã nhằm phổ biến kiến thức, nâng cao năng lực và thu hút người trẻ đến với nghề truyền thống. Hội gốm sứ cũng khuyến khích con em theo học các ngành nghề kỹ thuật, mỹ thuật... về phát triển tại địa phương.
 
Từ năm 2002, các nghệ nhân ở Giang Cao đã bắt đầu liên kết để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thông qua Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng. Những thành viên của hiệp hội không chỉ là những gia đình sản xuất gốm mà còn có cả các công ty kinh doanh gốm sứ. 
 
Thông qua hiệp hội, người dân có cơ hội tìm hiểu, nắm bắt thông tin về thị trường, các kiến thức mới trong công nghệ sản xuất gốm sứ, phương thức buôn bán thời thương mại điện tử và cách nâng cao năng lực cạnh tranh. 
 
Ông Hùng cũng cho biết thêm: bên cạnh chợ gốm làng cổ Bát Tràng khai trương tháng 11/2003, xã cũng đang tiếp tục xúc tiến các dự án xây dựng chợ chiều Giang Cao, cảng du lịch Bát Tràng giai đoạn hai, xây dựng bảo tàng gốm sứ, chợ kết hợp trưng bày và giới thiệu sản phẩm làng nghề truyền thống gốm sứ Giang Cao. 
 
Mới đây, Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng đã thành lập Trung tâm xúc tiến xuất khẩu Bát Tràng, phối hợp với thành phố Hà Nội tổ chức lễ ra mắt Câu lạc bộ nghệ nhân làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng và tiến hành xây dựng thương hiệu “Bát Tràng Việt Nam - 1000 năm truyền thống”. 
 
Đi sâu vào trong làng, tôi bắt gặp nhiều hơn các xưởng gốm quy mô lớn có, vừa vừa có. Nhìn các nghệ nhân ngồi say sưa bên bàn xoay với thỏi đất chưa rõ hình hài, thật không thể không khâm phục những trí óc sáng tạo, những bàn tay tài hoa, điêu luyện ấy. Trong mỗi tác phẩm nghệ thuật đã được hoàn thành, tôi như nhìn thấy cả sự cần mẫn, tài năng và có lẽ là cả tâm hồn của người nghệ sỹ, tâm hồn người Việt, hồn dân tộc.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Các di vật, cổ vật được trưng bày gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... từ đầu Công nguyên đến các triều đại Lý, Trần, Lê.
 
Ngày 16/2, tại Bảo tàng tỉnh Nam Định, Hội cổ vật Thiên Trường phối hợp với Câu lạc bộ UNESCO nghiên cứu, sưu tầm cổ vật Việt Nam đã tổ chức trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật mừng Xuân Quý Tỵ 2013.
 
Các di vật, cổ vật được trưng bày lần này chủ yếu gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... có niên đại từ đầu Công nguyên đến các triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê. Đây là một trong các hoạt động mở đầu cho Năm du lịch Quốc gia đồng bằng sông Hồng gắn liền với phiên chợ Viềng xuân của tỉnh Nam Định; đồng thời cũng là dịp để những người yêu thích, đam mê và muốn tìm hiểu về các di vật, cổ vật trên cả nước có điều kiện được tìm hiểu, giao lưu, trao đổi kiến thức.
 
Nhân dịp này, Hội cổ vật Thiên Trường hiến tặng cho Bảo tàng tỉnh Nam Định hai bức sắc phong thời Nguyễn và bốn cổ vật gốm thời Lý, Trần. Trưng bày cổ vật đầu năm là một trong những hoạt động thường niên của Hội cổ vật Thiên Trường nhằm suy tầm, quảng bá, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc./.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Cùng với gốm Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu... nổi tiếng của khu vực phía Bắc, làng gốm Trù Sơn (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) là một trong những “cái nôi” về gốm nổi tiếng ở khu vực Bắc Trung bộ. Nhưng hiện nay, gốm Trù Sơn đang đứng trước nguy cơ mai một, vì không tìm được đầu ra, chưa được sự quan tâm và đầu tư thích đáng...
 
Ở Trù Sơn hiện nay, những phụ nữ tầm tuổi sinh khoảng 1954 - 1970 vừa là “bà chủ” vừa là thợ chính, còn những phụ nữ sinh trước 1954 do điều kiện và sức khỏe nên đi làm giúp và truyền lại nghề. Gọi là truyền nghề, nhưng thực chất là truyền cho những người đã... biết rồi, còn lứa tuổi sinh từ sau năm 1970 không mấy ai tập làm nghề này nữa, thế hệ trẻ sau này càng không có người.
 
Chúng tôi vào xóm 11, chỉ thấy chị Nguyễn Thị Hồng lủi thủi ngồi “vắt” đất nặn nồi một mình. để có được sản phẩm gốm, chồng chị Hồng phải sang xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) đào đất sét chở về, sau đó phải đạp đất cho nhuyễn, lọc sạn, cắt... “vắt” rồi nặn. Sau công đoạn nặn là đem phơi nắng cho khô và cuối cùng bỏ lò nung 4 - 5 giờ, tùy theo sản phẩm có được nắng hay không. Đó là chưa kể công đem đi “rao khắp nơi” bán hàng.
 
Chị Hồng tâm sự rằng làm nghề này “ức” nhất là phơi sản phẩm gặp trời mưa. Có bữa đang ăn cơm, mưa bất ngờ đổ xuống, chạy ra “cứu” được “hắn”, quay vô nhà thì bữa cơm đã bị chó, mèo “ăn tan”. Cực vậy, nhưng sản phẩm làm ra, cũng chỉ được từ 4.000 đồng/cái cho đến tầm 10.000 đồng, 25.000 đồng/cái... (bán tại chỗ). Nếu muốn bán được giá thì phải chở vào TP Vinh, Hà Tĩnh, ra Thanh Hóa, Ninh Bình... 
 
Về Trù Sơn hôm nay, nếu không được biết trước sẽ khó có thể nhận ra nơi đây có một làng nghề làm đồ gốm. Các dấu tích của làng nghề đã bị che khuất bởi nhà cửa, tường rào... Anh Nguyễn Hữu Lịch, Phó Chủ tịch UBND xã Trù Sơn cho biết, trước đây, việc làm nghề gần như quanh năm, rộ lên vào 3 tháng áp tết. Nhưng sau này, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cơ chế thị trường, nghề không còn hợp với lớp người trẻ, vốn ít, thu nhập từ nghề thấp... nên nghề chỉ còn chủ yếu ở xóm 10 và 11 với khoảng 40 hộ làm thường xuyên.
 
Theo đánh giá, trong khi gốm Hải Dương đa dạng, hình thức đẹp, được tráng men... thì gốm Trù Sơn còn đơn giản, làm bằng phương pháp thủ công, không tráng men, chỉ có màu đất. Nhưng có lẽ, chính vì “chỉ có màu đất” nên gốm Trù Sơn có nét đặc trưng riêng. Đất làm gốm được lấy chủ yếu từ xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc), hoặc xa hơn nữa tận xã Sơn Thành (huyện Yên Thành). Đây là loại đất sét mịn, khá “trong”, ít cợn... Thông thường, khi được đào sâu xuống tầm 1m thì mới có loại đất cần tìm, đó là đất sét trắng.
 
Nhưng điều đặc biệt là từ màu trắng này, sau khi được nung lên qua lửa đỏ thì sẽ cho ra màu đỏ - hồng như màu bình minh rất đẹp. “Người ta thì “cô” vàng, còn người quê tui “cô” mồ hôi” - anh Lịch ví von. Chính vì nghề “bạc” nên hiện không mấy ai muốn theo nghề. Nhiều nhiệm kỳ xã đã đưa vấn đề phát triển làng nghề vào nghị quyết, nhưng đến nay vẫn chưa đâu vào đâu. 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Chiếc bát sứ quý hiếm thời Khang Hy

Chiếc bát sứ quý hiếm thời Khang Hy

Một chiếc bát sứ đỏ họa tiết hoa sen quý hiếm có từ đời vua Khang Hy- Trung Quốc, giai đoạn 1662-1722 vừa được bán với mức giá kinh ngạc 9.1 triệu đô la Mỹ ( tương đương gần 190 tỷ đồng) trong một cuộc mua bán tại Hồng Kông.
 
Với mức giá 74 triệu đô la Hồng Kông (tương đương 9.1 triệu đô la Mỹ) đây được coi như một kỷ lục thế giới mới đối với các sản phẩm sứ Trung Quốc đời vua Khang Hy (thuộc triều đại Nhà Thanh) sau khi được một công ty tại Hồng Kông mua lại từ tổ chức đấu giá Sotheby.
 
Chiếc bát chạm khảm tráng men được trang trí với màu hồng, vàng và màu xanh của lá sen đã gây chú ý lập tức tại buổi đấu giá. Chiếc bát ban đầu được dự kiến sẽ đạt mức giá 70 triệu đô la Hồng Kông, nhưng đã đạt được mứa giá 74 triệu đô la Hồng Kông.
 
Người bán đấu giá cho biết, chiếc bát đã phá vỡ kỷ lục được lập hồi năm 2006 bởi một sản phẩm sứ thời Khang Hy khác. Đó là một chiếc bình “Rồng” màu trắng xanh được bán với mức giá 22.52 triệu đô la Hồng Kông.
 
Hồng Kông nổi lên là một trong những trung tâm đấu giá lớn trên thế giới về các tác phẩm nghệ thuật. Điều này được cho là nhờ các đại gia mới nổi tại đại lục, những người có rất nhiều tiền và bắt đầu có sở thích về các loại đồ cổ xa xỉ.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

Gốm trong trang trí nội thất

Những vật dụng bằng gốm ấy, dù đơn giản là thứ đồ dùng trong nhà hay những đồ trang trí nội thất làm đẹp thêm không gian của chủ nhân thì nó cũng đóng vai trò quan trọng và góp phần không nhỏ làm tăng giá trị cho không gian của bạn.
 
Gốm trong trang trí nội thất 
 
                              Khu vườn sinh động hơn với những sản phẩm gốm đẹp và lạ mắt
 
Gốm là một chất liệu hiện được sử dụng khá nhiều trong trang trí nhà cửa. Việc sắp đặt, bố trí bình gốm khá đơn giản, nhưng sẽ mang đến hiệu quả tốt về thẩm mỹ. Khi bài trí, cần lưu ý tới kích thước, chất liệu và chủng loại gốm.
 
Cách bài trí bình gốm thông dụng nhất là trang điểm cho không gian, chứ không phải là lấn át không gian. Nghĩa là căn phòng hay khu vực trưng bày bình gốm phải được “dọn” tương ứng và có mục đích để khi đưa bình gốm vào thì yếu tố thẩm mỹ và điểm nhấn được tăng lên. Bạn cũng cần căn cứ vào kích thước bình để chọn vị trí. Bình lớn nên đặt ở góc cầu thang, góc phòng. Loại trung bình có thể bố trí ở bàn góc salon, tủ lớn. Bình loại nhỏ bày trên kệ, bậu cửa sổ hay hốc âm tường. Chủ đề của bình gốm cũng cần được cân nhắc sao cho phù hợp với thời điểm mà gia chủ sắp đặt, ví dụ như dịp Lễ Tết, Giáng sinh hay sinh nhật đều nên khác nhau.
 
Gốm trong trang trí nội thất
 
        Lựa chọn bình gốm trang trí theo thẩm mỹ để tạo điểm nhấn cho không gian nội thất
 
Gốm trong trang trí nội thất
 
Chất liệu bề mặt gốm cũng tùy thuộc phong cách nhà. Loại gốm đơn giản tự nhiên, men lì, gốm dân dã kiểu như chum vại thích hợp nhà nhiệt đới truyền thống. Nếu nhà có phong cách hiện đại trẻ trung thì bình gốm nên chọn loại phá cách, màu mạnh, dáng lạ. Có thể bài trí theo bộ hai ba chiếc thành cụm, hoặc dùng cùng tông như “anh em sinh đôi“. Bạn cũng không nên quá lạm dụng gốm trong trang trí nội thất vì nó sẽ biến nhà bạn thành “bảo tàng bất đắc dĩ”.
 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Lò gốm cổ Đại Hưng

Lò gốm cổ Đại Hưng

Lò lu Đại Hưng nằm ở ấp 1, xã Tương Bình Hiệp, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm thành phố Thủ Dầu Một khoảng 3km về phía bắc. Cái tên “Lò lu” xuất phát từ lò gốm chuyên sản xuất các loại lu, khạp, hũ... dùng cho sản xuất nông ngư nghiệp và đời sống từ xa xưa. Lò lu Đại Hưng là lò gốm cổ nhất đất Bình Dương, hiện vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công truyền thống, với sản phẩm nghề đặc trưng truyền thống.

Lò lu Đại Hưng có lịch sử trên 150 năm; người chủ sáng lập đầu tiên là một người Hoa vào khoảng thế kỷ 17-18. Lò lu Đại Hưng đã trải qua nhiều thăng trầm, với nhiều đời chủ. Có những quãng thời gian khó khăn lò lu Đại Hưng tưởng như phải đóng cửa ngừng sản xuất.

Lò lu Đại Hưng là cơ sở sản xuất gốm thủ công lớn nhất Bình Dương với diện tích gần 11.000m2.

Cơ sở cũng đã từng suýt bị giải thể vì bị cho rằng gây ô nhiễm môi trường; nhưng may mắn đã được giữ lại với quan điểm bảo tồn nghề truyền thống. Tháng 10/2006, lò lu Đại Hưng đã được UBND tỉnh Bình Dương xếp hạng di tích cấp tỉnh. Người có công giữ được lò lu Đại Hưng và bảo tồn, phát triển nghề là ông Bùi Văn Giang (Tám Giang), người chủ thứ 5, tới nay đã có 25 năm gắn bó, quản lý cơ sở gốm truyền thống này.

Sản phẩm của Đại Hưng là những chủ yếu là sản phẩm gốm gia dụng, thiết thực cho đời sống của những người làm nông – ngư nghiệp, là các loại lu, khạp, hũ... với nhiều kích cỡ; không sản xuất hàng gốm mỹ nghệ. Mỗi ngày trung bình lò xuất xưởng khoảng 300 sản phẩm các loại, tiêu thụ nhiều ở các tỉnh miền Tây và cả Campuchia, Thái Lan, vận chuyển theo đường giao thông thuỷ.

Trải qua thời gian cùng những thăng trầm lịch sử, và những thay đổi của đời sống, xã hội; lò lu Đại Hưng vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công truyền thống như xưa, không sử dụng máy móc (trừ khâu làm đất); trong khi các cơ sở gốm khác ở Bình Dương đã thay đổi, cơ giới hoá nhiều. Đây là quan điểm bảo tồn của ông chủ Tám Giang cũng như Sở Văn hoá - Thể thao – Du lịch tỉnh Bình Dương.

Nghề gốm là một nghề truyền thống đặc biệt, nổi tiếng của đất Bình Dương. Lò lu cổ Đại Hưng là một đại diện tiêu biểu, niềm tự hào; thể hiện bản sắc của miền đất này; và cũng để lại dấu tích quan trọng trên con đường phát triển nghề truyền thống ở vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương. Trong dân gian vẫn lưu truyền câu ca dao:

"Ai về chợ Thủ bán hũ, bán ve

Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu"./.

 

Nguồn: Sưu tầm

 
 
Bạn đang xem:Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất
9.1/10 -  12 bình chọn
Trang chủ
Gốm sứ nội thất
Tranh ốp tường, trang trí

Cơ sở sản xuất Nội Thất Thời Nay

Hotline: 0979 892 690
Email: sales.noithatthoinay@gmail.com

Địa chỉ Cơ sở 1:   Số 14, ngõ 59, phố Nam Dư, Lĩnh Nam, Hà Nội

              Cơ sở 2:   Số 4, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội

Copyright © 2012. Thiết kế bởi noithatthoinay.com

LiveZilla Live Help
Text Link:YH:dungnt_23121988 : |||