Logo
 
Hotline: 0934 231 288
Banner Sub 1
KHÔNG GIAN NỘI THẤT GỐM SỨ
Mr. Dũng Kinh doanh: Mr. Dũng Mr. Dũng Kỹ thuật: Mr. Dũng

Sưu tập gốm cổ Việt Nam

Huyền thoại kho báu gốm sứ hoàng cung Huế

Đó là kho báu mà theo truyền miệng là do vua Hàm Nghi chôn giấu ở một địa điểm bí mật sau ngày kinh đô Huế thất thủ vào 5.7.1885.

Xem tiếp
Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Giới sưu tầm cổ vật và những ai quan tâm cổ ngoạn, đều từng nghe qua bộ sưu tập Dương - Hà. Nhưng phải đến khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM...

Xem tiếp
Trưng bày gần 1.000 di vật, cổ vật đầu Xuân

Các di vật, cổ vật được trưng bày gồm các đồ gốm, sành, sứ, gỗ, sắt... từ đầu Công nguyên đến các triều đại Lý, Trần, Lê.

Xem tiếp
Trang

Bài viết tiêu điểm

Giá của một con khỉ làm bằng sứ giá 27 tỷ đồng

Giá của một con khỉ làm bằng sứ giá 27 tỷ đồng

Một con khỉ bằng sứ đặc biệt quý hiếm có kích thước như thật đã được bán đấu giá lên tới 27 tỷ đồng.
 
Con khỉ bằng sứ Meissen đã được bán với giá cao gấp đôi so với dự kiến
 
Con khỉ, ban đầu được vua Augustus II sử dụng, là một phần của bộ sưu tập được mệnh danh là “bộ sưu tập vĩ đại nhất về các loài động vật làm từ sứ Meissen thế kỉ 18 thuộc sở hữu tư nhân”.
 
Thuộc sở hữu của Sir Gawaine và quí bà Baillie, bộ sưu tập này được bán với giá hơn 4 triệu bảng Anh tại nhà đấu giá Sotheby’s , London.
 
Con khỉ trắng này được bán với giá gấp đôi ước tính ban đầu, và được một người giấu tên mua qua điện thoại. Được tạo ra bởi nhà điêu khắc Johann Joachim Kändler, nó mang hình một con khỉ đang lấy thuốc lá từ một chiếc hộp nhỏ. Ban đầu được vua Augustus II sử dụng, nó được ông trưng bày trong khu vực đồ sứ của mình tại cung điện Nhật Bản ở Dresden. Sau đó nó được bán cho quý bà Baillie trong một buổi đấu giá năm 1947, trước khi được chuyển giao cho con trai bà vào nhưng năm 1960. Con khỉ này đã được xác nhận là tác phẩm nguyên gốc từ năm 1732 bởi một chuyên gia về đồ sứ Meissen, giáo sư Ulrich Pietsch.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Làng gốm Trù Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

Cùng với gốm Thổ Hà, Phù Lãng, Chu Đậu... nổi tiếng của khu vực phía Bắc, làng gốm Trù Sơn (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) là một trong những “cái nôi” về gốm nổi tiếng ở khu vực Bắc Trung bộ. Nhưng hiện nay, gốm Trù Sơn đang đứng trước nguy cơ mai một, vì không tìm được đầu ra, chưa được sự quan tâm và đầu tư thích đáng...
 
Ở Trù Sơn hiện nay, những phụ nữ tầm tuổi sinh khoảng 1954 - 1970 vừa là “bà chủ” vừa là thợ chính, còn những phụ nữ sinh trước 1954 do điều kiện và sức khỏe nên đi làm giúp và truyền lại nghề. Gọi là truyền nghề, nhưng thực chất là truyền cho những người đã... biết rồi, còn lứa tuổi sinh từ sau năm 1970 không mấy ai tập làm nghề này nữa, thế hệ trẻ sau này càng không có người.
 
Chúng tôi vào xóm 11, chỉ thấy chị Nguyễn Thị Hồng lủi thủi ngồi “vắt” đất nặn nồi một mình. để có được sản phẩm gốm, chồng chị Hồng phải sang xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc) đào đất sét chở về, sau đó phải đạp đất cho nhuyễn, lọc sạn, cắt... “vắt” rồi nặn. Sau công đoạn nặn là đem phơi nắng cho khô và cuối cùng bỏ lò nung 4 - 5 giờ, tùy theo sản phẩm có được nắng hay không. Đó là chưa kể công đem đi “rao khắp nơi” bán hàng.
 
Chị Hồng tâm sự rằng làm nghề này “ức” nhất là phơi sản phẩm gặp trời mưa. Có bữa đang ăn cơm, mưa bất ngờ đổ xuống, chạy ra “cứu” được “hắn”, quay vô nhà thì bữa cơm đã bị chó, mèo “ăn tan”. Cực vậy, nhưng sản phẩm làm ra, cũng chỉ được từ 4.000 đồng/cái cho đến tầm 10.000 đồng, 25.000 đồng/cái... (bán tại chỗ). Nếu muốn bán được giá thì phải chở vào TP Vinh, Hà Tĩnh, ra Thanh Hóa, Ninh Bình... 
 
Về Trù Sơn hôm nay, nếu không được biết trước sẽ khó có thể nhận ra nơi đây có một làng nghề làm đồ gốm. Các dấu tích của làng nghề đã bị che khuất bởi nhà cửa, tường rào... Anh Nguyễn Hữu Lịch, Phó Chủ tịch UBND xã Trù Sơn cho biết, trước đây, việc làm nghề gần như quanh năm, rộ lên vào 3 tháng áp tết. Nhưng sau này, do nhiều nguyên nhân, trong đó có cơ chế thị trường, nghề không còn hợp với lớp người trẻ, vốn ít, thu nhập từ nghề thấp... nên nghề chỉ còn chủ yếu ở xóm 10 và 11 với khoảng 40 hộ làm thường xuyên.
 
Theo đánh giá, trong khi gốm Hải Dương đa dạng, hình thức đẹp, được tráng men... thì gốm Trù Sơn còn đơn giản, làm bằng phương pháp thủ công, không tráng men, chỉ có màu đất. Nhưng có lẽ, chính vì “chỉ có màu đất” nên gốm Trù Sơn có nét đặc trưng riêng. Đất làm gốm được lấy chủ yếu từ xã Nghi Văn (huyện Nghi Lộc), hoặc xa hơn nữa tận xã Sơn Thành (huyện Yên Thành). Đây là loại đất sét mịn, khá “trong”, ít cợn... Thông thường, khi được đào sâu xuống tầm 1m thì mới có loại đất cần tìm, đó là đất sét trắng.
 
Nhưng điều đặc biệt là từ màu trắng này, sau khi được nung lên qua lửa đỏ thì sẽ cho ra màu đỏ - hồng như màu bình minh rất đẹp. “Người ta thì “cô” vàng, còn người quê tui “cô” mồ hôi” - anh Lịch ví von. Chính vì nghề “bạc” nên hiện không mấy ai muốn theo nghề. Nhiều nhiệm kỳ xã đã đưa vấn đề phát triển làng nghề vào nghị quyết, nhưng đến nay vẫn chưa đâu vào đâu. 
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Bộ sưu tập Báu vật dân gian gốm sứ cổ

Giới sưu tầm cổ vật và những ai quan tâm cổ ngoạn, đều từng nghe qua bộ sưu tập Dương - Hà. Nhưng phải đến khi Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM công bố những thông tin mới, cụ thể hơn, người ta mới giật mình vì giá trị rất lớn của nó. 
 
Diện kiến chỉ một phần nhỏ bộ sưu tập, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP.HCM (2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1), kéo dài sau Tết Quý Tỵ, cũng đủ cho một hình dung về tầm mức của bộ sưu tập và một mường tượng rằng báu vật trong dân gian chưa được biết hết còn lớn đến mức nào.
 
Những thông tin ngắn gọn “giản dị” về bộ sưu tập Dương - Hà: số lượng: 3.360 hiện vật, niên đại: khoảng 2.500 năm trước đến đầu thế kỷ XX, nguồn gốc: từ Á sang Âu, giá trị: vô giá. TS Phạm Hữu Công, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử chỉ vào cuốn danh mục dày gần gang tay liệt kê hiện vật trong bộ sưu tập: “Nếu giới thiệu đầy đủ về bộ sưu tập, phải mất cả tuần hoặc hơn nữa. Hội đồng thẩm định chưa có thời gian để thẩm định vì quá nhiều”.
 
Ngay cả khi “sờ” đến, cũng có một số món mà các nhà khoa học thừa nhận là “hóc búa”, chưa nhận diện được lai lịch, như một hiện vật lạ mới chỉ được biết là của quân đội Nhật Bản thời kỳ đánh nhau ở Đông Dương... Bộ sưu tập có nhiều tiêu bản lạ lùng, quý hiếm, gồm nhiều chất liệu, xuất xứ, thể hiện đa dạng phong phú các đề tài sinh hoạt, tín ngưỡng, trang trí, phục vụ các thú thưởng ngoạn… Trong số này có bộ câu đối cảnh vật, hình người hóa chữ, là bộ thứ hai được biết đến ở Việt Nam; bộ sưu tập ngọc - ngà; gốm Nam Bộ; gốm Nhật; khoảng 400 món đồ sứ đề tài long ẩn… 
 
Giá trị của bộ sưu tập đã gây chú ý cho các nhà nghiên cứu nước ngoài. Trong quá trình thực hiện cuốn sách Vietnamese Ceramics - A Separate Tadition (Gốm Việt Nam - một truyền thống biệt lập), hai nhà nghiên cứu cổ vật người Anh John Stevenson và John Guy là hai trong số những người đầu tiên được tiếp cận bộ sưu tập vào những năm 1996 - 1997. Gia sản này khi đó được người con gái Dương Quỳnh Hoa (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam) cùng chồng là ông Huỳnh Văn Nghị quản lý. Một số món cổ vật gốm ấn tượng trích từ bộ sưu tập đã được giới thiệu trân trọng trong cuốn sách. 
 
Bộ sưu tập mang họ của đôi vợ chồng trí thức Nam Bộ, Dương Minh Thới (1899 - 1976) và Hà Thị Ngọc (1902 - 1979) này, cùng với bộ sưu tập của học giả Vương Hồng Sển, được các nhà nghiên cứu đánh giá là đã góp phần truyền bá tình yêu cổ vật, cổ vũ phong trào tìm hiểu và sưu tầm đồ cổ ở miền Nam những năm 60 - 70 thế kỷ trước, đồng thời chống lại việc chảy máu cổ vật ra nước ngoài. 849 món đồ cổ của cụ Vương đã được hiến tặng cho Nhà nước, Bảo tàng Lịch sử tiếp nhận năm 1997, và nay bộ sưu tập Dương - Hà cũng được đơn vị này bảo quản. 
 
Trong vòng 15 năm, có hai bộ sưu tập “khủng”, tài sản văn hóa lớn, giá trị kinh tế cao được người dân hiến tặng cho Nhà nước, là một kỷ lục của TP.HCM. Bên cạnh đó, còn có hình thức khác là những cuộc triển lãm với hiện vật do các nhà sưu tập tư nhân cho mượn. Những lần trưng bày này luôn có hiện vật mới, độc đáo xuất hiện gây bất ngờ ngay cả với người trong giới. Điều này nói lên thực tế, ngoài hai thương hiệu lớn Dương - Hà và Vương Hồng Sển, trong dân gian còn nhiều nhân vật “ẩn dật” khác, với những bộ đồ cổ nếu không quy mô về số lượng thì cũng độc đáo, quý hiếm về chất.
 
Một phần bộ sưu tập Dương-Hà, gồm 508 tiêu bản được rút từ bộ sưu tập cổ vật đồ sộ, gồm 3.360 hiện vật, với nhiều chất liệu, xuất xứ từ nhiều quốc gia châu Á, châu Âu, có niên đại từ thời Tiền-Sơ đến đầu thế kỷ 20, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM (số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q.1, TP.HCM) từ cuối tháng 12/2012 đến qua Tết Quý Tỵ 2013.
 
Ông Phạm Hữu Công, đồng thời là ủy viên Hội đồng giám định cổ vật Sở VH,TT&DL TP.HCM nói: “Tôi quen biết nhiều nhà sưu tầm cổ vật tư nhân, nhưng cũng không biết có còn ai sở hữu bộ sưu tập cỡ như bộ Dương - Hà không”. Số lượng các nhà sưu tập tư nhân tại TP.HCM hiện rất đông đảo với nhiều nhánh sưu tầm phong phú, đa dạng về niên đại, chất liệu, xuất xứ. Ngoài Hội Cổ vật TP.HCM với gần 100 thành viên, Chi hội Di sản văn hóa gốm Nam Bộ với gần 70 hội viên, trong đó có nhiều nhân vật tên tuổi, còn có nhiều tay chơi đồ cổ tự do đang hoạt động âm thầm trong dòng chảy riêng của mình. 
 
Trong lúc các nhà sưu tập thận trọng trong việc thành lập bảo tàng tư nhân vì nhiều lý do như thiếu mặt bằng, kinh phí, an ninh…, còn việc hiến tặng cho Nhà nước khối tài sản tích cóp cả đời không phải ai cũng có thể làm được, thì những cái bắt tay giữa Nhà nước với tư nhân là một cách hay mà hai bên cần nghĩ đến thường xuyên. Đó là lối để những di vật của người xưa đến được với nhiều người nay, để hiểu thêm rằng đây không phải là khu vực xa lạ với những câu chuyện khô khan về bao món đồ cũ rích.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Lò gốm cổ Đại Hưng

Lò gốm cổ Đại Hưng

Lò lu Đại Hưng nằm ở ấp 1, xã Tương Bình Hiệp, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, cách trung tâm thành phố Thủ Dầu Một khoảng 3km về phía bắc. Cái tên “Lò lu” xuất phát từ lò gốm chuyên sản xuất các loại lu, khạp, hũ... dùng cho sản xuất nông ngư nghiệp và đời sống từ xa xưa. Lò lu Đại Hưng là lò gốm cổ nhất đất Bình Dương, hiện vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công truyền thống, với sản phẩm nghề đặc trưng truyền thống.

Lò lu Đại Hưng có lịch sử trên 150 năm; người chủ sáng lập đầu tiên là một người Hoa vào khoảng thế kỷ 17-18. Lò lu Đại Hưng đã trải qua nhiều thăng trầm, với nhiều đời chủ. Có những quãng thời gian khó khăn lò lu Đại Hưng tưởng như phải đóng cửa ngừng sản xuất.

Lò lu Đại Hưng là cơ sở sản xuất gốm thủ công lớn nhất Bình Dương với diện tích gần 11.000m2.

Cơ sở cũng đã từng suýt bị giải thể vì bị cho rằng gây ô nhiễm môi trường; nhưng may mắn đã được giữ lại với quan điểm bảo tồn nghề truyền thống. Tháng 10/2006, lò lu Đại Hưng đã được UBND tỉnh Bình Dương xếp hạng di tích cấp tỉnh. Người có công giữ được lò lu Đại Hưng và bảo tồn, phát triển nghề là ông Bùi Văn Giang (Tám Giang), người chủ thứ 5, tới nay đã có 25 năm gắn bó, quản lý cơ sở gốm truyền thống này.

Sản phẩm của Đại Hưng là những chủ yếu là sản phẩm gốm gia dụng, thiết thực cho đời sống của những người làm nông – ngư nghiệp, là các loại lu, khạp, hũ... với nhiều kích cỡ; không sản xuất hàng gốm mỹ nghệ. Mỗi ngày trung bình lò xuất xưởng khoảng 300 sản phẩm các loại, tiêu thụ nhiều ở các tỉnh miền Tây và cả Campuchia, Thái Lan, vận chuyển theo đường giao thông thuỷ.

Trải qua thời gian cùng những thăng trầm lịch sử, và những thay đổi của đời sống, xã hội; lò lu Đại Hưng vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công truyền thống như xưa, không sử dụng máy móc (trừ khâu làm đất); trong khi các cơ sở gốm khác ở Bình Dương đã thay đổi, cơ giới hoá nhiều. Đây là quan điểm bảo tồn của ông chủ Tám Giang cũng như Sở Văn hoá - Thể thao – Du lịch tỉnh Bình Dương.

Nghề gốm là một nghề truyền thống đặc biệt, nổi tiếng của đất Bình Dương. Lò lu cổ Đại Hưng là một đại diện tiêu biểu, niềm tự hào; thể hiện bản sắc của miền đất này; và cũng để lại dấu tích quan trọng trên con đường phát triển nghề truyền thống ở vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương. Trong dân gian vẫn lưu truyền câu ca dao:

"Ai về chợ Thủ bán hũ, bán ve

Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu"./.

 

Nguồn: Sưu tầm

 

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

 Ngày này có rất nhiều vật phẩm phong thủy giúp gia đình bạn được may mắn. Với kinh nghiệm nhiều năm trong nghề chúng tôi đã tạo ra dòng sản phẩm Tượng sứ phong thủy mang thương hiệu Bát Tràng. Tượng sứ phong thủy là sản phẩm hoàn hảo được tạo bởi các nghệ nhân sứ Bát Tràng. Các nghệ nhân đã thổi hồn vào đó khiến các bức tượng trông rất thật và biểu cảm

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

Tượng sứ phong thủy Bát Tràng - Đem may mắn đến nhà bạn 2013

 

 
Gốm sứ vẫn là mặt hàng xuất khẩu trong năm 2013

Gốm sứ vẫn là mặt hàng xuất khẩu trong năm 2013

Đó là chia sẻ của ông Lê Bá Ngọc, Tổng thư ký Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam về mặt hàng xuất khẩu trọng điểm của ngành trong năm 2013.
 
Ông Ngọc cũng cho biết, năm 2012 là năm ghi dấu những nỗ lực vượt bậc của các DN trong ngành. Với đặc thù là ngành xuất khẩu tới 90% sản phẩm, trong khi tình hình tại các thị trường nhập khẩu chính của ngành không hề khả quan, nhưng năm vừa qua, ngành thủ công mỹ nghệ vẫn đạt mức tăng trưởng 10% so với năm 2011, đạt 1,6 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu.
 
Gốm sứ và mây, tre, cói, thảm là hai nhóm hàng đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ trong năm qua. Theo đó, mặt hàng gốm sứ giữ vị trí số 1 khi đạt 431 triệu USD kim ngạch, tăng 12% so với cùng kỳ. Mặt hàng mây, tre, cói, thảm đứng ở vị trí thứ 2 với 211 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 10,5% so với cùng kỳ.
 
Nhật Bản vẫn là thị trường nhập khẩu sản phẩm gốm sứ lớn nhất của Việt Nam khi chiếm trên 16% tỷ trọng, đạt khoảng 65 triệu USD. Đài Loan là thị trường lớn thứ 2 với 13% tỷ trọng, đạt khoảng 51 triệu USD. Tiếp đến là một số thị trường như: Mỹ, Malaysia, Đức, Thái Lan, Hàn Quốc…
 
Theo ông Lê Bá Ngọc, không chỉ năm 2012 mặt hàng gốm sứ mới là điểm nhấn về kim ngạch xuất khẩu của ngành mà đây là truyền thống, là thế mạnh của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam khi gốm sứ luôn chiếm khoảng 40% tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của cả nước. Và “đây sẽ tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam trong năm 2013”, ông Lê Bá Ngọc khẳng định. Trong nhóm hàng gốm sứ xuất khẩu thì hàng gốm mỏng và gốm trang trí sân vườn của Việt Nam được các thị trường lớn như: Đài Loan, Mỹ, EU, Thụy Điển, Nga và đặc biệt là thị trường Nhật Bản ưa chuộng.
 
Bà Hà Thị Vinh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh (Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội) cho biết: Với đặc thù mỏng, nhẹ, kích thước nhỏ gọn, gốm mỏng luôn là lựa chọn hàng đầu của các nhà nhập khẩu, nhất là các nhà nhập khẩu đến từ Nhật Bản. Bản thân Quang Vinh không thiếu đơn hàng gốm mỏng. Ngay từ thời điểm cuối quý III của năm 2012, Quang Vinh đã nhận được các đơn đặt hàng cho hết quý II/2013. Mặc dù số lượng của mỗi đơn hàng không lớn nhưng trong bối cảnh chồng chất khó khăn từ phía các thị trường nhập khẩu thì đây thực sự là điều rất đáng mừng.
 
Tuy nhiên, Bà Vinh cũng khá lo lắng bởi cho dù ở thời điểm hiện tại dòng gốm mỏng đang chiếm ưu thế nhưng áp lực về mẫu mã, về giá cả… cũng đang là trở ngại lớn không chỉ cho Quang Vinh mà còn là khó khăn chung của các DN ngành gốm.
 
Giải thích rõ hơn về điều này, ông Lê Bá Ngọc cho biết, do mặt hàng gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam thuộc dòng sản phẩm trang trí, mà đã là sản phẩm trang trí thì vòng đời rất ngắn, nên đòi hỏi phải thường xuyên thay đổi mẫu mã. Trong khi đó, năng lực thiết kế mẫu mã của chúng ta còn rất hạn chế. Ngoài ra, tuy sản phẩm gốm sứ xuất khẩu của Việt Nam độc đáo, mang tính nghệ thuật cao nhưng thường là đơn chiếc, lại sản xuất thủ công nên khả năng đáp ứng được đơn hàng lớn là rất khó.
 
Để khắc phục được những nhược điểm này, theo ông Ngọc, nhất thiết các DN trong ngành phải đầu tư thích đáng cho công nghệ sản xuất, cho khâu thiết kế, hạn chế dần sự phụ thuộc vào mẫu mã của nhà nhập khẩu. Đặc biệt, các DN cần phải nghiên cứu thị trường, cập nhật những quy định, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, nắm bắt xu hướng tiêu dùng… Có như thế mới tạo được tính “thời sự” cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm sứ xuất khẩu Việt Nam.
 

Nguồn: Sưu tầm

 
Phục dựng dòng gốm Chu Đậu

Phục dựng dòng gốm Chu Đậu

Trong dân gian truyền miệng “Sứ nhất sứ Giang Tây, Gốm nhất gốm Chu Đậu” đủ thấy dòng gốm này được đánh giá cao đến mức nào. Phát triển rực rỡ trong suốt thời Lý – Trần – Lê – Mạc (thế kỷ XV-XVII) nhưng do những biến cố của lịch sử dòng gốm Chu Đậu - tuyệt đỉnh của Gốm cổ Việt Nam - bị thất truyền hơn 500 năm qua.
 
Lai lịch dòng gốm cổ
 
Làng Chu Đậu là một vùng quê yên ả bên tả ngạn sông Thái Bình, từ lâu nổi tiếng về nghề dệt chiếu. Nhắc đến “chiếu Đậu” thì người Bắc nào cũng biết. Nhưng nói về gốm Chu Đậu thì hầu như chẳng ai biết gì, bởi suốt nhiều thế kỷ qua, nghề gốm Chu Đậu đã thất truyền. Những bí mật sẽ mãi nằm sâu trong lòng đất, nếu không có một biến cố bất ngờ.
 
Năm 1980 ông Makato Anabuki - Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, trong một chuyến đi công tác ở Thổ Nhĩ Kỳ đã nhìn thấy một chiếc bình gốm hoa lam, trang trí hoa sen và cúc dây cao 54 cm được trưng bày tại Viện Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul . T
 
rên vai bình có ghi 13 chữ Hán “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút”, nghĩa là “Năm Thái Hòa thứ tám (1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách vẽ chơi”. Vốn đã có thâm niên công tác tại Việt Nam và đặc biệt cũng là một người say mê gốm cổ, ông Makato Anabuki đã xác định bình gốm cổ này có xuất xứ từ Việt Nam.
 
Sau đó ông đã viết một lá thư gửi ông Ngô Duy Đông (lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương – tên cũ là Hải Hưng) nhờ xác minh giúp xem chiếc bình gốm quý giá đó có xuất xứ từ làng gốm nào.
 
Từ  thông tin trên, bảo tàng, sở Văn Hóa, các nhà nghiên cứu của Hải Dương đã vào cuộc sưu tầm những dấu vết về làng gốm cổ.
 
Năm 1986, người ta khai quật di tích Chu Đậu thuộc thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương. Kết quả đã tìm thấy nhiều di vật gốm mỹ nghệ cao cấp mà từ trước đến nay chưa từng được phát hiện, cũng như chứng tỏ nơi đây từng là một trung tâm sản xuất gốm lớn của Việt Nam .
 
Năm 1999, khi con tàu đắm ở Cù Lao Chàm (Hội An) và Pandanan (Philippines) được trục vớt đã thu vớt hơn 20 vạn sản phẩm có xuất xứ từ Chu Đậu. Chứng tỏ thời kỳ hoàng kim,  gốm Chu Đậu đã giao thương buôn bán không chỉ trong khu vực mà còn vươn ra với thế giới (Hiện nay người ta đã thống kê được Gốm Chu Đậu đang được trân trọng lưu giữ tại 46 bảo tàng danh tiếng ở hơn 30 quốc gia trên khắp thế giới).
 
Gốm cổ hồi sinh
 
Đến thăm Chu Đậu vào ngày cuối đông, rất may mắn tôi được gặp ông Nguyễn Văn Lưu- giám đốc xí nghiệp gốm Chu Đậu. Ấn tượng đầu tiên về ông là vẻ rắn rỏi, cương nghị và hồn hậu đậm chất “lính”.
 
Ông dẫn tôi đi một vòng thăm Xí nghiệp trên diện tích gần 4 hecta và kể về quy trình tạo ra một sản phẩm gốm. Để làm ra đồ gốm người thợ gốm phải qua các khâu chọn, xử lí và pha chế đất (Đất sét ở Chu Đậu lấy từ vùng thổ nhưỡng trầm tích phù sa của 6 con sông lớn – Lục Đầu Giang: sông Lục Nam, Sông Thương, Sông Cầu, Sông Đuống, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình).
 
Sau đó đất được tạo dáng "vuốt tay, be chạch" trên bàn xoay. Để tạo hoa văn, thợ gốm dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoạ tiết; phủ men và cuối cùng là nung sản phẩm.Vì thế mà các nhà nghiên cứu mới đúc kết quy trình sản xuất ra gốm Chu Đậu mang đầy tính tâm linh: Đất tạo nên xương cốt, nước tạo ra hình hài, lửa tạo ra thần thái! Đó là sự kết hợp hài hòa của âm dương ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ).
 
Khi được hỏi về quá trình “phục hưng” gốm cổ ông hào hứng “Năm 2000, khi tôi đang làm trưởng phòng gốm mỹ nghệ của Haprosimex thuộc Tổng Công ty Thương mại Hà Nội có thương hiệu là Hapro tại TPHCM thì Báo Sài Gòn Giải Phóng đăng tin trục vớt một con tàu ở Cù lao Tràm – Quảng Ngãi trong đó có 40 vạn cổ vật được xác định là gốm Chu Đậu của quê hương Nam Sách chúng tôi. Anh Nguyễn Hữu Thắng – Tổng giám đốc Hapro cũng là một người con của sông Kinh Thầy nảy ra ý tưởng cử tôi về quê, phục hưng nghề gốm của quê hương...
 
Nói đến đây giọng ông bỗng chùng xuống “Có ý tưởng, quyết tâm như vậy nhưng ngày đầu về đây thì khó khăn trùng trùng. 10 năm trước Chu Đậu còn là một làng quê nghèo, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông và dệt chiếu cói.
 
Đất nơi này lúc đó là sình lầy, hoang vu, đường giao thông còn chưa có. Nhưng điều khó khăn nhất là nghề gốm Chu Đậu ngày xưa hoàn toàn không còn trong tâm thức của người dân ở đây. Các nghệ nhân xưa cũng không còn một ai, các bí quyết cũng đã bị thất truyền.
 
Năm 2001, chúng tôi đã đi khắp nơi mời được hơn chục nghệ nhân nổi tiếng, từ Nam ra Bắc, những nhà khoa học... trong đó có những nghệ nhân nổi tiếng khu vực và Việt Nam như nghệ nhân – Bàn tay vàng Đông Dương Vũ Thế Cửu, nghệ nhân - Hoạ sĩ Vũ Bá Định, Tiến sĩ hoá Nguyễn Năng Thi... Chính họ đã cùng chúng tôi bỏ nhiều công sức để tìm tòi, nghiên cứu và đặt những dấu ấn đầu tiên phục dựng lại nghề gốm Chu Đậu, từ việc mô phỏng lại kiểu dáng gốm cổ, chất liệu, màu men, cách thức sản xuất...
 
Sau đó, chúng tôi đã tổ chức mở nhiều khoá học cho con em ở địa phương về kiến thức làm gốm, thu nhận họ về Xí nghiệp và trở thành những người thợ gốm .Đào tạo thợ cũng gian nan không kém, 300 em thì chỉ có khoảng 15-20 em thành thợ gốm. Khả năng về kỹ thuật thì có thể dạy được nhưng năng khiếu về thẩm mỹ, cái “duyên” về nghề thì do “trời ban”.
 
Ông Lưu giải thích “Gốm Chu Đậu ngày nay không sản xuất đồng loạt, dùng máy mà tất cả dùng tay. Từ công đoạn tạo dáng, người thợ phải dùng tay “vuốt” trên  bàn xoay để tạo hình cho sản phẩm. Đến công đoạn tạo hoa văn, người thợ gốm vẽ trực tiếp vào mỗi sản phẩm, vì thế mỗi sản phẩm sản xuất ra ở đây có thể nói là “độc nhất vô nhị”.
 
Cũng là những bình hoa lam, bình tỳ bà, lọ hoa, chén đĩa hay những khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống của cư dân đồng bằng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, chim đậu trên cành hoa, đàn cá bơi dưới nước, mái nhà tranh ven sông... nhưng dưới sự “nhạy cảm” của đôi bàn tay, mỗi sản phẩm trở thành một tác phẩm mang cái thần, cái hồn rất riêng của mỗi người thợ gốm.
 
Đưa tôi đến phòng trưng bày sản phẩm của Xí nghiệp, diện tích 1.000m2   với hàng ngàn, hàng vạn các sản phẩm đủ loại kiểu dáng, kích cỡ, hoa văn, họa tiết ,ông Lưu phấn khởi khoe “Bước đầu khó khăn là thế, nhưng 10 năm qua gốm Chu Đậu đã tồn tại và từng bước khẳng định được vị thế của mình. Hiện nay mỗi năm Chu Đậu sản xuất ra hơn chục triệu sản phẩm Các sản phẩm gốm sản xuất ra không chỉ tiêu thụ mạnh trong nội địa mà còn xuất đi trên 50 quốc gia thế giới như châu Âu, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Nhật, Hàn Quốc. Đặc biệt người Nhật rất chuộng dòng sản phẩm này và chén, ấm uống trà của Trà đạo Nhật Bản chính là những sản phẩm của dòng gốm Chu Đậu.
 
Cầm trên tay một chiếc hoa lam tôi hỏi ông: - Chiếc bình ở Istanbul giống như chiếc bình này phải không ạ?
 
Ông Lưu cười, cái cười hào sảng hồn hậu rất “lính” – Không đâu, chiếc bình ở Istanbul hiện giờ có giá khoảng hơn một triệu đô, còn cái bình cháu cầm thì chỉ đáng giá vài trăm ngàn đồng Việt Nam và chú có thể tặng cháu.
 
Rồi ông giải thích ngay: Đỉnh cao của gốm được gói gọn trong 5 tiêu chí, đó là: Trong như ngọc, trắng như ngà, mỏng như giấy, sáng như gương và kêu như chuông. Đến nay gốm Chu Đậu do chúng tôi sản xuất cũng đã hội tụ gần đủ cả 5 yếu tố đó. Tuy nhiên, do các bí kíp đã thất truyền, nên một số đặc tính gia truyền của gốm Chu Đậu cổ chúng tôi vẫn chưa nghiên cứu và phỏng theo hết được. Đặc biệt là loại men “Tam Thái” – men ba màu đặc sắc của gốm Chu Đậu cổ xưa. Thế mới thấy cái tài hoa, cái kỳ diệu của ông cha ta.
 
Cầm chiếc bình gốm trên tay ngoài sự khâm phục, tự hào đối với thế hệ cha ông đã tạo ra được dòng gốm nổi tiếng khắp thế giới cách đây hàng thế kỷ, tôi còn cảm phục cái tài và cái tâm của những người con đất Việt bảo tồn và phát huy được Gốm Chu Đậu, một dòng gốm mang bản sắc thuần Việt, có giá trị lịch sử, văn hoá sâu sắc là một điều đáng trân trọng , tự hào.
 

Nguồn: Sưu tầm

 

5 cách dùng đĩa để trang trí nhà

“Trang trí nhà bằng sự sáng tạo, không phải bằng tiền”
 
Trong việc trang trí nhà cửa, đĩa là bộ sưu tầm lớn, nhưng bạn không cứ phải sở hửu một bộ sưu tầm đĩa cổ Trung Hoa mới đề cao được vẻ đẹp của những cái đĩa trong nhà bạn. Việc dùng đĩa để trang trí nhà có thể tiết kiệm tiền bạc cho bạn, thêm vào nét duyên dáng và tao nhã cho từng căn phòng của bạn cũng như cho phép bạn phô trương những cái đĩa mà bạn ưa thích. Dưới đây là 5 cách tuyệt vời dùng đĩa để trang trí nhà.

5 cách dùng đĩa để trang trí nhà

5 cách dùng đĩa để trang trí nhà
 
1 – Những đĩa đẹp có thể tìm thấy ngay trong tủ cất chén đĩa của bạn, vì vậy đừng quên tìm kiếm cái bạn đã có sẵn. bạn không cứ phải sở hửu những cái đĩa đắt tiền mới phô trương được…hãy tìm kiếm chúng tại các cửa hàng một dollar, cửa hàng tiết kiệm, các cửa hiệu giảm giá… để mua những cái đĩa nhỏ xinh xắn bắt mắt bạn và phù hợp với sự phối màu trong nhà bạn.
 
2- Hãy thử gắn trên khoảng tường lớn với sắp xếp theo nhóm những cái đĩa để gây tác dụng mạnh. Điều này đặc biệt hữu ích nếu bạn sưu tầm được những cái đĩa cùng một dòng màu. Thử sắp xếp theo những vòng cung tròn để làm nổi bật những cạnh tròn của đĩa. Thêm vào những đồ vật khác vào nhóm đĩa tùy theo ý thích, nhưng hãy để đĩa làm trung tâm của việc trang trí. Điều này đặc biệt hữu ích khi bạn đang kiếm cách tạo một điểm tập trung cho căn phòng, nhưng bạn lại muốn dùng một thứ khác hay ho hơn là một bức tranh treo phía trên ghế sofa. Dùng các máng (hay móc) treo đĩa mà bạn có thể dễ dàng mua được tại các cửa hàng gốm sứ.
 
3- Sử dụng đĩa để tôn lên các điểm kiến trúc trong nhà bạn. Hảy để chúng ôm theo các gờ viền vòng cung hoặc tạo ra một vòng cung trên cửa sổ bằng một hàng các đĩa. Hãy treo chúng phía trên các cửa ra vào để nâng tầm nhìn của mắt lên. Hay gây một sự ngạc nhiên bằng lối sắp xếp thấp dần xuống trên một bức tường.
 
4- Đĩa không bắt buộc chỉ hạn chế trong trang hoàng nhà bếp. Có thể sử dụng chúng trang trí trên kệ đầu giường ngủ hoặc gắn dọc trên tường như phong cách gallery – phòng trưng bày nghệ thuật.
 
5- Đừng quên rằng trong việc trang trí nhà không cứ phải treo đĩa trên tường để tôn lên nét đẹp của chúng. Hãy dùng một đĩa đựng thức ăn tráng miệng xinh xinh làm chân cắm nến, hoặc làm đĩa đựng xà phòng trong phòng tắm, hay để đựng một vốc hoa oải hương khô. Và cũng nên nhớ rằng những món đồ khác với đĩa trong tủ đựng chén đĩa của bạn cũng có thể được dùng với mục đích trang trí tương tự. Những bình đựng sốt, xoong nồi bằng gốm sứ, chai rượu chát, hũ gốm đựng đường, kem…tất cả đều có thể trưng bày được.
 
Sử dụng những vật dụng thường ngày vào công việc trang trí nhà là một cách tuyệt vời vừa tiết kiệm tiền bạc, vừa đánh giá được vẻ đẹp của đồ vật thông thường. Vậy ngay hôm nay bạn hãy thử treo vài cặp đĩa lên tường, lục tìm trong tủ đựng chén đĩa của mình một vài món có thể trưng bày mang lại nét duyên dáng cho tổ ấm của mình.
 
Kathy Wilson là tác giả, người phụ trách chuyên mục và chủ bút của nhiều website chuyên về ” nhà và vườn”.  Bà là tác giả của hàng trăm ý tưởng “do it yourself” về trang trí nhà và vườn. Bạn có thể ghé thăm website của bà tại
 
5 cách dùng đĩa để trang trí nhà

5 cách dùng đĩa để trang trí nhà

5 cách dùng đĩa để trang trí nhà

 

Nguồn: Sưu tầm

 
 
Bạn đang xem:Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất Sưu tập gốm cổ Việt Nam - Gốm sứ nội thất
9.1/10 -  12 bình chọn
Trang chủ
Gốm sứ nội thất
Tranh ốp tường, trang trí

Cơ sở sản xuất Nội Thất Thời Nay

Hotline: 0979 892 690
Email: sales.noithatthoinay@gmail.com

Địa chỉ Cơ sở 1:   Số 14, ngõ 59, phố Nam Dư, Lĩnh Nam, Hà Nội

              Cơ sở 2:   Số 4, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội

Copyright © 2012. Thiết kế bởi noithatthoinay.com

LiveZilla Live Help
Text Link:YH:dungnt_23121988 : ||| sửa chữa cửa cuốn , sửa cửa cuốn , máy sấy tay , máy sấy tay Panasonic , máy đánh giầy , máy đánh giầy Shiny , máy đánh giầy Silroad , xe đẩy hàng , xe đẩy hàng Phong Thạch , xe đẩy hàng Prestar Japan ,